Các phương pháp mới gọi chung là phương pháp miễn dịch siêu nhạy cảm (ultrasensitive), đo được lượng TSH có độ nhạy cảm mạnh hơn từ 10-100 lần, giúp phát hiện nồng độ TSH rất thấp trên những bệnh nhân cường giáp, đồng thời cũng loại ra được những trường hợp phản ứng chéo của những bệnh lý khác như tăng LH, FSH, HCG. Hiện nay trị giá thấp nhất đo được đạt đến 0,005mU/L bằng thử nghiệm hóa học huỳnh quang thế hệ thứ 3 (TSH ICMA) (trị số bình thường từ 0,4-6,2mU/mL).
Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu gần đây cũng chưa xác định được giới hạn thấp nhất là bao nhiêu, và có ý nghĩa gì khác hơn. Hiện có khoảng 30 loại kit để đo lường TSH trên thị trường. Chọn lựa loại nào còn tùy thuộc khá nhiều vào trang bị của phòng xét nghiệm, xét nghiệm viên có quen thuộc với loại xét nghiệm hay không. Ðộ nhạy cảm của xét nghiệm của từng hãng sản xuất có khác nhau, khi xử dụng loại nào, cần thông báo cho các người làm lâm sàng biết thang chuẩn để có thể tham khảo chính xác. Thí dụ một công trình đăng trong tạp chí Clinical Chemotherapy 1990, nghiên cứu về nồng độ TSH trên bệnh nhân biểu hiện rung nhĩ do cường giáp (thể ẩn - subclinical) đã cho kết quả 26% có TSH ở nồng độ 0,3mU/mL (mức đo được BT 0,4-6,2mU/mL). Ðiều này cho thấy đây không phải là phương pháp nhạy cảm cao đã nói ở trên và chắc chắn tác giả đã bỏ sót những chẩn đoán khác.
- TSH là xét nghiệm tốt nhất để phân biệt giữa tình trạng bình giáp và cường giáp.
- Xét nghiệm nhạy cảm TSH (sTSH) cải thiện công việc chẩn đoán cường giáp. Nồng độ TSH liên quan chặt chẽ với hoạt động của trục hạ đồi-tuyến yên; việc giảm nồng độ sTSH và TRH giúp xác định được hầu hết các thể bệnh cường giáp.
Khi TSH rất thấp, cần lưu ý bệnh nhân có thể có cường giáp mặc dù lâm sàng chưa có biểu hiện.
- Xét nghiệm TSH giúp cho việc theo dõi điều trị bằng Thyroxin (điều trị thay thế hoặc ức chế).
- Nồng độ sTSH thấp là một dấu hiệu sớm của sự tái phát bệnh Basedow sau điều trị (kể cả điều trị nội và điều trị phẫu thuật, phóng xạ).
- Kết quả thấp của TSH có thể liên quan đến một số rối loạn khác ngoài tuyến giáp.
* Bệnh lý của vùng hạ đồi, tuyến yên.
* 3 tháng đầu của thai kỳ.
* Bệnh lý không do tuyến giáp NTI (non-Thyroid illness).
* Một số thuốc có thể làm thay đổi lượng TSH như glucocorticoid, dopamine,.).
* Một số bệnh lý cấp tính khác.
Một báo cáo hồi cứu tổng kết các trường hợp giảm nồng độ TSH cho thấy chỉ 17% có sự liên quan với các bệnh lý khác không do cường giáp hay do điều trị thay thế quá liều.
* Tương tự việc tăng TSH không phải lúc nào cũng do nhược giáp như:
- TSH tăng vừa phải có thể gặp ở bệnh nhân bình giáp trong thời kỳ hồi phục (recovery) sau cơn bệnh nặng hay ngay cả đối với bệnh nhân cường giáp cũng có thể có hiện tượng này (hội chứng tiết không đủ TSH cho nhu cầu cơ thể)
Chỉ đơn thuần sự thay đổi của nồng độ TSH không phản ánh đúng tình trạng của tuyến giáp, mà cần phải phối hợp với việc đo đạc hormon tuyến giáp (T3, T4).
- T4 là thử nghiệm căn bản thứ hai sau sTSH để đánh giá tình trạng trong tuyến giáp, đặc biệt là lượng T4 tự do (FT4) không kết hợp với protein; loại này có khả năng đi vào trong tế bào, để chuyển đổi thành T3 - tác động vào thụ cảm T3 và tham gia vào quá trình nội tiết biến dưỡng của cơ thể.
- FT4 đóng vai trò chính trong cơ chế chi phối ngược đối với việc sản xuất ra TSH và liên quan chặt chẽ với lượng TSH lưu thông ngoại biên.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy lượng TSH tựdo nói lên tình trạng của tuyến giáp chính xác hơn là lượïng T4 toàn phần. Mặc dù FT4 chiếm tỉû lệ rất nhỏ (0,02ø%).
- FT4 tăng đồng nghĩa với cường giáp kết hợp với sTSH giảm đáng kể.
- Có nhiều cách để định lượng FT4 như:
· Phương pháp miễn dịch.
· FT4 index related indirect method.
· .
Các phương pháp khác nhau này có những điểm đặc biệt riêng cho một số tình huống đặc biệt như: có thai, bệnh bướu cổ có tính gia đình, di truyền, người dùng thuốc ngừa thai hay estrogen. và khác nhau về khả năng phát hiện lượng T4 tăng. Nói chung nếu định lượng T4 giảm thường có liên quan đến tình trạng nhược giác. Ða số các chuyên gia đều nhận định giá trị chính xác của phương pháp đo theo 2 bước bằng phương pháp miễn dịch (two-step GammaCoat RIA, two-step IAS), tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi trang bị và kỹ thuật cao cấp hơn và đắt tiền hơn.
Những thập kỷ trước, phương pháp này tỏ ra thông dụng, nhưng đến nay do những hiểu biết sâu xa hơn về các thành phần của Thyroxin trong cơ thể (và cả loại có gắn kết với Albumin) nên T4 toàn phần không phản ánh đúng tình trạng của tuyến giáp. Người ta chỉ còn ứng dụng để tìm thêm về các rối loạn thành phần gắn kết albumin của T4 mà thôi.
- TriiodoThyroxin (T3) là chất có tác động biến dưỡng mạnh gấp 3 lần Thyroxin (T4) và tham gia vào hầu hết các quá trình biến dưỡng ở mức phân tử.
Như vậy đo lượng T3 hay T3 tự do là một xét nghiệm góp phần vào việc chẩn đoán một số ít trường hợp cường giáp do T3.
- T3 không được dùng để chẩn đoán nhược giáp vì: Khi tuyến giáp suy kém, dưới sự kích thích của TSH, tuyến giáp sẽ sản xuất nhiều T3 hơn T4 giúp cân bằng bình giáp của T3 càng lâu càng tốt; điều này dẫn đến lượng T3/FT3 ngoại biên tương đối cao, do đó đây là một chỉ thị không nhạy cảm trong bệnh cường giáp.
- Về lý luận, đo được lượng FT3 chính xác hơn T3 toàn phần, tuy nhiên, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này.
- Thường được đo theo phương pháp miễn dịch phóng xạ gắn kết có cạnh tranh (competitive binding RIA).
Khoảng 30-40% bệnh nhân ung thư tuyến giáp có tự kháng thể lưu thông đối với Thyroglobulin.
- Thyrolobulin lâu nay vẫn được xem là chất để theo dõi diễn biến tái phát sau điều trị ung thư tuyến giáp các loại (Van Herle), nhạy cảm hơn phương pháp scan toàn cơ thể bằng I131, và phát hiện sớm trước một năm trước khi có biểu hiện trên scan và I131 của di căn phổi, xương và nơi khác.
Tuy nhiên Tg rất ít nhạy cảm, nếu di căn vào hạch cổ, trung thất, nhất là do tổn thương ung thư dạng nhú (papillary).
- Thêm vào đó Thyrolobulin đôi khi còn giúp để chẩn đoán phân biệt cường giáp ở thể viêm tuyến giáp bán cấp (Tg tăng cao) với thể nhiễm độc tuyến giáp toxicosis factitra (Tg thấp) là hội chứng cường giáp trên bệnh nhân có bướu giáp lan tỏa đơn thuần trước đó. Trị số BT của Tg từ 5-40ng/mL.