Nguyễn Tuấn Cường *, Phan Thanh Hải *, Nguyễn Sào Trung**
Mêlanom ác là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các loại ung thư da do khả năng sớm di cân xa của nó. Tuy vậy, chúng ta ít gặp những báo cáo về di căn đến tuyến giáp. Bệnh nhân nam của chúng tôi, 60 tuổi, bốn tháng trước đã được chẩn đoán mêlanom vùng nách trái. Siêu âm thấy tuyến giáp lớn và hai thùy giáp có nhiều nốt tròn, nhỏ, echo kém, các nốt này có nhiều mạch máu nuôi. Chọc hút tế bào với kim nhỏ xác định đây là di căn tuyến giáp của mêlanom ác. Theo Devita và cs., khả năng di căn tuyến giáp trên lâm sàng < 1%, nhưng trên tử thiết lại là 25-39%. Do vậy, thiết nghỉ, nếu chúng ta để ý tới bệnh lý này nhiều hơn thì khả năng phát hiện ung thư di căn đến tuyến giáp sẽ tăng lên đáng kể.
A CASE OF MALIGNANT MELANOMA METASTATIC TO THE THYROID GLAND
Malignant melanoma is the leading cause of death in kinds of skin cancer because of its early distant metastases. However, reports about metastasis to the thyroid gland are rare. Our male 60 year-old patient was diagnosed malignant melanoma of the left axilla 4 months before. The ultrasound showed enlarged thyroid gland and its two lobes had many hypoechoic small round nodules which were hypervascular. FNAC confirmed thyroid metastasis from malignant melanoma. According to Devita et al, the possibility of clinically thyroid metastasis was below 1% but in autopsy it was 25 - 39%. Therefore, if we pay more attention to this disease, the possibility of detecting thyroid metastases will increase considerably.
ÐẶT VẤN
ÐỀ
Mêlanôm ác đang dần trở nên một bệnh lý thường gặp hơn, tỷ lệ mắc bệnh gia tăng đáng kể trong 40 năm trở lại đây.
Mêlanôm ác chiếm tỷ lệ 1-2% tổng số các loại ung thư, nhưng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các loại ung thư da, do khả năng di căn hạch và di căn xa xảy ra sớm gây khó khăn nhiều cho việc điều trị(1).
Tuyến giáp không phải là vị trí di căn thông thường của Mêlanôm ác. Trong trường hợp có di căn, tỷ lệ này dưới 1%(3).
Bệnh nhân Trần Văn Ngại, 60 tuổi, nam, đến khám vì có bướu cổ sau mổ mụt ruồi ở nách.
Từ nhỏ ghi nhận đã có một mụt ruồi đen ở nách (T), sờ mềm.
6/1997, nốt ruồi lớn lên, sần sùi, cứng, loét. Ðụng vào dễ chảy máu, thỉnh thoảng có chất đen dính vào áo.
3/1998, trở nên ăn ngủ kém, người mệt mỏi, gầy sút, đến bệnh viện Phú Tân (An Giang): Ðược cắt bỏ mụt ruồi ở nách. Kết quả sinh thiết: Mêlanôm ác tính.
5/1998, tái phát tại chỗ, xuất hiện nhiều nốt đen và một hạch cứng tại nách (T).
Người cảm thấy mệt mỏi nhiều, ăn uống kém hơn, thỉnh thoảng ho.
Ghi nhận có bướu cổ.
Bệnh nhân có thể tạng gầy, tổng trạng trung bình.
Sinh hiệu: Mạch: 80 l/phút, Huyết áp: 14/8 cm Hg
Vùng nách (T) có sẹo mổ cũ, vài nốt đen sần sùi, và một hạch chứng.
Tuyến giáp lớn, cứng, lan tỏa, di động tốt theo nhịp nuốt, không đau.
Không có triệu chứng rối loạn chức năng giáp.
|
|
|
Hình 1: Cắt dọc qua một thùy giáp |
Tuyến giáp to cả hai thùy và có những nốt tròn echo kém lan tỏa nằm kế cận nhau giống như tổ ong.
Trên siêu âm màu (Color Doppler), cho thấy có mạch máu nuôi các nốt tròn này, nhất là với Doppler năng lượng (PDI).
|
|
Hình 2: Cắt ngang qua hai thùy giáp
|
|
|
Hình 3 |
|
|
|
Hình 4 |
Di căn thượng thận (P) và gan (P) (một vị trí)
Tổn thương dạng nốt lan tỏa nhiều hai phế trường.
Chọc hút tế bào tuyến giáp với kim nhỏ: (Hình 3 - 4): Gồm nhiều tế bào dị dạng, nhân tăng sức, có tế bào có nhiều nhân, bào tương có chứa nhiều sắc melanin. Ngoài ra còn có hồng cầu, một ít tế bào biểu mô giáp bình thường.
Di căn tuyến giáp của Mêlanôm ác.
D xác định: Mêlanôm ác tái phát di căn tuyến giáp, thượng thận (P), gan, phổi.
Tuyến giáp là cơ quan có nhiều mạch máu nuôi và những ung thư thường di căn đến tuyến giáp gồm có ung thư vú, thận, carcinom phế quản và mêlanôm ác(5). Tuy nhiên tỷ lệ phát hiện di căn tuyến giáp từ mêhanôm ác rất ít. Tìm trong MEDLINE trong khoảng thời gian 10 năm (1987-1996) chỉ ghi nhận có bốn trường hợp phát hiện trên lâm sàng. Như vậy khả năng thật sự di căn tuyến giáp của mêlanôm ác như thế nào?
Theo y văn thì vị trí di căn của mêlanôm ác trước tiên là phổi, gan, não, xương chiếm từ 11-36%. Trường hợp sau điều trị tại chỗ (phẫu thuật) thì vị trí di căn thường nhất là da, mô dưới da và hạch vùng. Trong khi đó, di căn tuyến giáp chỉ chiếm < 1% (trên lâm sàng), nhưng tỷ lệ tử thiết là 25-39%(3).
Một thí nghiệm được thực hiện vào năm 1991 tại Mỹ, khảo sát khả năng lan tràn của tế bào mêlanôm ác đến các cơ quan: Một dung dịch gồm các tế bào mêlanôm ác của người được truyền vào tĩnh mạch của dòng chuột bị khiếm khuyết miễn dịch bẩm sinh. Sau một thời gian, thấy có biểu hiện mêlanôm trên da và có sự lan tràn đến các cơ quan nội tạng: gan, phổi, não, thận, tim, lách và tuyến giáp(6).
Có khoảng 50% trường hợp Mêlanôm ác gặp trên một tổn thương hắc tố lành tính có từ trước. Thường là một nốt màu đen (mụt ruồi). Ở giai đoạn tiến triển, sang thương xâm lấn ra ngoại vi, bờ không đều, chảy máu, loét và gia tăng nhanh về kích thước(1).
Không đặc hiệu. Có thể là một nhân cứng, lớn nhanh, không có dấu hiệu rối loạn chức năng giáp(5).
*
Khảo sát tuyến giaíp qua siêu âm:
Hình ảnh siêu âm của di căn tuyến giáp từ cácxinôm phế quản, mêlanôm ác và cácxinôm thận cho thấy: Tuyến giáp lớn một bên / hai bên, cấu trúc tuyến không đồng dạng và có những vùng echo kém(4).
Di căn tuyến giáp từ mêlanôm ác theo tác giả Bruneton J.N. có thể là một nốt echo kém bên cạnh mô giáp lành(2).
*
Giải phẫu bệnh:
Chọc hút tế bào với kim nhỏ - với sự hướng dẫn của siêu âm đối với các sang thương khó sờ thấy - là phương pháp an toàn và có độ chính xác cao trong chẩn đoán mêlanôm di căn.
(Ðộ nhạy cảm: 97,8%, Ðộ đặc hiệu: 100%, Ðộ chính xác: 98,4%)(7).
Ở bệnh nhân này: Hình ảnh sang thương nguyên phát và sang thương ở tuyến giáp, về lâm sàng và cận lâm sàng đều phù hợp chứng minh đây là trường hợp di căn tuyến giáp từ mêlanôm ác.
Phụ thuộc nhiều vào mức độ xâm lấn và di căn của sang thương nguyên phát.
Sang thương còn khu trú ở da: tiên lượng rất tốt.
Di căn hạch: tỷ lệ sống 5 năm là 30%.
Di căn xa (tuyến giáp, gan...) tỷ lệ sống 5 năm là < 10%
Phát hiện sớm trên một tổn thương hắc tố lành tính có sẵn (dạng mụt ruồi)(1):
Những mụt ruồi có lông hiếm khi hóa ác.
Những mụt ruồi ở vị trí dễ bị cọ xát có nguy cơ diễn tiến thành mêlanôm ác.
Dấu hiệu có thể hóa ác của một mụt ruồi là màu trở nên đậm hơn, tăng nhanh kích thước, sắc tố lan ra quá bờ, loét.
Mọi tổn thương hắc tố ở lòng bàn chân phải được nghĩ là mêlanôm ác cho đến khi có chẩn đoán giải phẫu bệnh ngược lại.
Ðây là trường hợp tương đối hiếm gặp trên lâm sàng của mêlanôm ác trên một tổn thương hắc tố có từ trước, di căn đến tuyến giáp. Thực tế khả năng di căn đến tuyến giáp không phải là ít (tỷ lệ tử thiết là 25-39%). Do đó thiết nghĩ nếu khi khám siêu âm chúng ta chú ý đến bệnh lý này nhiều hơn (hỏi bệnh sử) thì khả năng phát hiện di căn tuyến giáp sẽ tăng lên đáng kể.
(Xin cảm
ơn Bác sĩ Nguyễn Thiện Hùng, Trưởng Khoa Siêu Âm MEDIC đã
giúp đỡ tư liệu cho bài viết này)
1. NGUYỄN CHẤN HÙNG - NGUYỄN SÀO TRUNG. Bệnh học Ung Bướu cơ bản. Sách giáo khoa Trung Tâm Ðào tạo và Bồi dưỡng Cán Bộ Y tế, Tp.Hồ Chí Minh; 1992.
2. BRUNETON J.N. et al. Échographic en Pathologie tumorale de l’Adulte. Paris: Masson; 1984.
3. DEVITA V.T et al. Cancer, Principles and Practice of Oncology. 4th Ed. Philadelphia: J.B.Lippincotte; 1993; 1612 - 50.
4. EFTEKHARI - F, PEUCHOT - M : Thyroid metastases: Combined role of utrasonography and fine needle aspiration biopsy. MEDLINER, 1989.
5. GREENSPAN F.S., STREWLER G.J.Basic and Clinical Endocrinology. 5th Ed. Prentice - Hall International; 1997; 192 - 250.
6. MULE - J.J. et al. Disseminated human malignant melanoma in congenitally immune - deficient (bg/nu/xid) mice. MEDLINE;1991.
7. SCHOEGEN - A et al : FNAC of metastatic malignant melanoma. Improvement of results with ultrasound control. MEDLINE, 1994.
* Trung tâm Chẩn đoán Y Khoa MEDIC TP.Hồ Chí Minh
** Bộ môn Giải phẫu bệnh - Trường Ðại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh