Ngoài ra, một số tác giả tỏ ý nghi ngờ các số liệu xác suất được đưa vào cây quyết định để tính toán mang tính chủ quan và rất khó thẩm tra. Thật ra, với các số liệu được rút ra từ các nghiên cứu đủ lớn và được thiết kế chặc chẽ thì rất sát hợp và đáng được đưa vào cây quyết định. Tuy nhiên trong nhiều tình huống lâm sàng còn nhiều nghiên cứu được thiết kế không cẩn thận, hay chỉ dựa vào kinh nghiệm trải qua thì các số liệu như vậy thường ít giá trị và thiếu tin cậy. Trong những tình huống này, để việc phân tích các quyết định lâm sàng có giá trị và đáng tin cậy hơn cần áp dụng kỹ thuật phân tích độ nhạy (sensitivity analysis) trong phân tích các quyết định lâm sàng.

Ðừng nên lầm lẫn phân tích độ nhạy của một test chẩn đoán. Phân tích độ nhạy là kỹ thuật thay vào cây quyết định các trị số xác suất tối đa và tối thiểu một biến số, một sự kiện nào đó. Sau đó, nếu tính các trị số hệ quả biên trên và biên dưới cho thấy cách chọn quyết định lâm sàng vẫn không thay đổi thì kết quả được xem là có giá trị. Thí dụ, khi phân tích độ nhạy cho tình huống lâm sàng trên, nếu ta xem tác động của các trị số xác suất chết sau phẫu thuật ở bệnh nhân viêm gan do rượu từ 50 - 75 % (Bảng 1). Khi ta thay các trị số này vào cây quyết định, ta thấy  rằng quyết định sinh thiết gan vẫn là quyết định tốt nhất. Do đó ta kết luận rằng phân tích các quyết định vẫn hằng định ít nhất giữa hai biên tử vong sau phẫu thuật (50-75%) trên bệnh nhân viêm gan do rượu.

Bảng 1: Phân tích độ nhạy theo xác suất viêm gan do rượu

LỢI ÍCH DỰ KIẾN

Xác suất viêm gan do rượu %

Giải phẫu

Nội khoa

Sinh thiết

Quyết định tốt

0

0,900

0,250

0,898

Giải phẫu

10

0,860

0,300

0,883

Sinh thiết

20

0,820

0,350

0,868

Sinh thiết

30

0,780

0,400

0,853

Sinh thiết

40

0,740

0,450

0,838

Sinh thiết

50

0,700

0,500

0,823

Sinh thiết

60

0,660

0,550

0,808

Sinh thiết

70

0,620

0,600

0,793

Sinh thiết

80

0,580

0,650

0,778

Sinh thiết

90

0,540

0,700

0,764

Sinh thiết

100

0,500

0,750

0,749

Nội khoa

Bảng 2: Phân tích độ nhạy theo xác suất sống sau sinh thiết gan

LỢI ÍCH DỰ KIẾN

Xác suất viêm gan do rượu %

Giải phẫu

Nội khoa

Sinh thiết

Quyết định tốt

94

0,540

0,700

0,719

Sinh thiết

93

0,540

0,700

0,712

Sinh thiết

92

0,540

0,700

0,704

Sinh thiết

91

0,540

0,700

0,696

Sinh thiết

90

0,540

0,700

0,689

Sinh thiết

Bất kỳ các biến số (xác suất) nào cũng có thể đưa vào cây quyết định để phân tích độ nhạy và nếu trị số tối đa hay tối thiểu làm thay đổi các quyết định (các quyết định không hằng định), thì khi  đó cần xem xét, cân nhắc theo viễn cảnh lâm sàng (clinical senario) của bệnh trạng. Kết quả phân tích độ nhạy trên một biên độ xác suất viêm gan do rượu từ 0-100% (Bảng 1) cho trường hợpấy ở biên độ 10-90% thì việc ra quyết định sinh thiết gan để chẩn đoán rõ ràng là lợi ích hơn các quyết định khác. Chỉ tại các trị số cực trên hay dưới của xác suất viêm gan do rượu thì mới có vấn đề về lợi ích giữa sinh thiết gan chẩn đoán. Ở cực dưới, hầu như chắc chắn là viêm đường mật, quyết định phẫu thuật chắc chắn sẽ cho trị số nhỉnh hơn quyết định sinh thiết gan. Ở cực trên, hầu như chắc chắn bệnh nhân viêm gan do rượu, quyết định điều trị nội khoa sẽ cho trị số lợi ích nhĩnh hơn so với sinh thiết gan. Khi nghi ngờ chính việc sinh thiết gan cũng có một xác suất biến chứng tử vong, và điều này có thể ảnh hưởng đến việc có hay không quyết định sinh thiết gan. Kết quả phân tích độ nhạy ở biên độ 90-94% (Bảng 2) cho thấy chỉ trừ khi nguy cơ tử vong do biến chứng sau sinh thiết gan trên 8% thì quyết định sinh thiết gan là quyết định không phù hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        GREENBERG RS et al.: Clinical Decision - Making, in Greenberg RS et al. Medical epidemiology, USA Appleton & Lange, 1996

2.        JEKEL JF et al.: Improuving decisions in Clinical Medicine, in Jekel JF et al. Epidemiology, Biostatistics and preventive medicine, USA, WB Saunders Company, 1996.

3.        KNAPP GR, MILLER CM: Clinical decision analysis, in Knapp GR, Miller CM: Clinical Epidemiology and Biostatistics. USA, Williams and Wilkins, 1992.

4.        LÊ HOÀNG NINH: Các dạng nghiên cứu dịch tễ học. Trong  Lê Hoàng Ninh, Nguyễn Văn Truyền (chủ biên). Dịch tễ học cơ bản, nhà xuất bản Y học, 1995.

5.        SOX Jr. HC, et al: Medical decision making, USA, Butker Worths, 1988.

6.        WEISS SN: Clinical Epidemiology: What it is and how it is used, in Weiss SN: Clinical Epidemiology: The study of the outcome of illness, New York, Oxford University press, 1986.