NHỮNG TIẾN BỘ TRONG CHẨN ÐOÁN VÀ ÐIỀU TRỊ BỆNH SỎI MẬT

Nguyễn Ðình Hối*, Nguyễn Hoàng Bắc*, Ðỗ Ðình Công*, Lê Văn Cường*, Nguyễn Tấn Cường*, Võ Tấn Ðức*, Nguyễn Thị Lý*, Võ Thị Chi Mai*, Ðặng Tâm*


Bệnh sỏi mật có ở mọi nơi, ở các nước công nghiệp cũng như ở các nước đang phát triển, có mức sống thấp và điều kiện sinh hoạt chưa tốt. Ở Việt Nam, bệnh sỏi đường mật rất nhiều. Nhiều công trình khoa học đã được trình bày, nhiều hội thảo đã được tổ chức, nhiều luận án đã được thực hiện . nhằm rút ra những kinh nghiệm trong chẩn đoán và những chỉ dẫn trong điều trị, nhưng vẫn còn rất nhiều những khó khăn.

Trong vòng 20 năm trở lại đây, trong chẩn đoán đã có thêm siêu âm và những máy móc trong labô. Trong vòng 10 năm nay các phương tiện điều trị không phẫu thuật được sử dụng và phẫu thuật can thiệp tối thiểu ra đời. Chúng tôi muốn nhìn lại những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA SỎI MẬT

Lịch sử nghiên cứu

Trên thế giới

Ngành khảo cổ học phát hiện sỏi mật ở một thiếu nữ Ai Cập đã chết trên 2000 năm. Gần đây, Kaufman nhận thấy sỏi mật ở người Mỹ gồm 72% là cholesterol, 24% là sỏi sắc tố đen, 4% là sỏi sắc tố nâu. Năm 1995, Elisabeth Maillard bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại thấy ở người Pháp 60,8% là sỏi cholesterol, 20% là sỏi sắc tố. Kim nghiên cứu 72 mẫu sỏi mật ở người Hàn Quốc, cho thấy 68% là sỏi sắc tố, 32% là sỏi hỗn hợp nhiều thành phần. Năm 1994, Lin nghiên cứu sỏi mật trên người Ðài Loan cho thấy tỷ lệ sỏi sắc tố chiếm 69%.

Trong nước

Trước năm 1945 tại Bệnh viện Phủ Doãn (Hà Nội) có công trình đầu tiên về bệnh sỏi mật của Huard, Autret, Tôn Thất Tùng với tiêu đề "Nghiên cứu về sỏi gan mật ở vùng Viễn Ðông". Công trình này có 2 kết luận: 1) Sỏi cholesterol hiếm so với sỏi hỗn hợp và sỏi sắc tố mật, 2) Khả năng tạo sỏi quanh xác giun đũa.

Sau này Ðỗ Kim Sơn, Phạm Duy Hiển, Lê Trung Hải và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu và thấy sỏi mật ở người Việt Nam chủ yếu là sỏi sắc tố.

Các phương pháp phân tích thành phần hóa học mới

Trước đây phân tích thành phần hóa học bằng các phương pháp hóa học, phương pháp xạ ký, phương pháp sắc ký... Các phương pháp này rất khó xác định chính xác hàm lượng của các chất trong một viên sỏi, nhất là nếu mẫu thử rất nhỏ. Gần đây có phương pháp phân tích sỏi bằng quang phổ tán xạ Raman và quang phổ hồng ngoại.

Phương pháp quang phổ tán xạ Raman

Năm 1928 Raman CSV tìm ra hiệu ứng mang tên tác giả. Năm 1962 người ta dùng tia Laser làm nguồn kích thích cho tán xạ Raman. Ðể ghi nhận phổ Raman người ta sử dụng một trong hai loại bộ phận dò tìm là DTS (Deutareted triglycine sulfate) và MCT (Mercury calcium telluride). Quang phổ Raman có thể dễ dàng nhận diện được những mẫu ở thể rắn, thể lỏng, thể khí và những mẫu ở nhiệt độ cao, trong dung dịch pha loãng... Dùng máy quang phổ để ghi nhận phổ tán xạ mà các vạch đặc trưng cho cấu trúc phân tử và tinh thể nghiên cứu nên cần so sánh phổ của một mẫu chưa biết với phổ của một mẫu đã biết thành phần.

Phương pháp quang phổ hồng ngoại

Các nhóm hóa học khác nhau hấp thụ các bức xạ hồng ngoại bước sóng khác nhau. Vì vậy một chùm hồng ngoại đa sắc khi qua mẫu sẽ bị phân tích thành các bức xạ đơn sắc nhận biết được nhờ một bộ phận dò tìm gắn với một thiết bị ghi, cho phép ghi lại biểu đồ.

Ưu điểm của phương pháp quang phổ tán xạ Raman và quang phổ hồng ngoại:

- Xác định trực tiếp phân tử nên kết luận chắc chắn về sự hiện diện của một chất trong sỏi.

- Có thể phân tích các mẫu nhỏ 1-2 mg, và cho kết quả nhanh, dưới 10 phút.

- Ðộ phân giải tốt giúp phân tích hỗn hợp gồm nhiều chất gần giống nhau đặc biệt giúp định lượng các chất khác nhau trong một hỗn hợp mà các phương pháp hóa học không xác định được. Quang phổ Raman có thể phân tích trực tiếp các mẫu không cần xử lý trước.

Khuyết điểm của hai phương pháp này là trang thiết bị đắt tiền và khi mẫu là hỗn hợp có quá nhiều chất thì việc phân tích cũng sẽ khó khăn.

Hiện nay trường đại học Y Dược TPHCM và trường đại học Khoa học tự nhiên TPHCM đang phối hợp với nhau nghiên cứu thành phần hóa học của sỏi mật bằng phương pháp quang phổ tán xạ Raman.

Thành phần hóa học của sỏi mật ở người Việt Nam

Trong thời gian 4 năm, từ 1996 đến 1999, bệnh viện Bình Dân - TP. HCM có 110 mẫu sỏi mật lấy từ bệnh phẩm phẫu thuật. Sỏi được gửi sang viện Viện Lý Hóa Paris để phân tích thành phần hóa học bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại và quang phổ tán xạ Raman. Kết quả như sau:

- Sỏi mật ở người Việt Nam là sỏi hỗn hợp gồm 4-6 thành phần, ít nhất là hai thành phần. Thành phần hóa học chủ yếu là calcium bilirubinate và cholesterol, không có trường hợp nào là sỏi đơn thuần chỉ có một thành phần.

- Sỏi mật ở người Việt Nam 60% là sỏi sắc tố, 17,27% là sỏi cholesterol và 22,73% là sỏi hỗn hợp.

- Sỏi ống mật chủ và sỏi trong các ống gan 79,31% là sỏi sắc tố với thành phần calcium bilirubinate cao. Ở túi mật, sỏi sắc tố chiếm tỷ lệ cao hơn sỏi cholesterol (38,46% so với 32,69%). Ở đây sỏi cholesterol có tỷ lệ cao hơn nhiều so với sỏi ở đường mật chính (32,69% so với 3,45%). Như vậy sỏi ống mật chủ ở người Việt Nam có thành phần hóa học khác với sỏi túi mật, không giống với sỏi ống mật chủ ở các nước phương Tây thường có nguồn gốc từ sỏi túi mật rớt xuống.

- Ở nữ giới, tỷ lệ sỏi sắc tố thấp (50%) so với nam giới (75%).

- Ở bệnh nhân mập, tỉ lệ cholesterol trong sỏi mật cao hơn người bình thường hay người gầy.

- Sỏi sắc tố mật có màu đen hay sậm, sỏi cholesterol và sỏi hỗn hợp có màu vàng đậm hoặc màu vàng sáng.

- Thành phần hóa học của phần vỏ, phần nhân và toàn viên sỏi khác nhau rất ít và không có ý nghĩa về mặt thống kê.

- Các thuốc làm tan sỏi như chenodeoxycholic acid và ursodeoxycholic acid được biết là chỉ có tác dụng trên sỏi cholesterol. Trên người Việt Nam các thuốc này có thể có lợi ích đối với sỏi túi mật nhưng chắc là ít có tác dụng đối với sỏi đường mật chính. Còn tác dụng của thuốc đối với sỏi hỗn hợp như thế nào thì phải có nhiều nghiên cứu nữa.


* Trường Ðại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh