Kết
quả điều trị vỡ lách
trong chấn thương bụng ở người lớn
Nguyễn Văn Long*, Nguyễn Thế Hiệp*, Nguyễn Bá Nhuận**
Tóm tắt
Trong thời gian từ 11/1999 đến 7/2001, có 200 trường hợp vỡ lách do chấn thương và vết thương bụng. Nam có 163 ca nhiều gấp 4,4 lần nữ (37 ca). Tuổi từ 2-70, tuổi thường gặp từ 15-40 (80%). Lý do nhập viện là đa chấn thương (39%) và chấn thương bụng đơn thuần (61%). Nguyên nhân thường do tai nạn giao thông (72%).
Phân chia thành 3 nhóm bệnh: nhóm 1: cắt lách (60,5%); nhóm 2: khâu & cắt một phần lách (PTBT)(30%) và nhóm 3: bảo tồn không mổ (9,5%).
Biểu hiện lâm sàng 2 hội chứng: xuất huyết nội (48,5%) và viêm phúc mạc (16,5). Chẩn đoán chính xác vỡ lách bằng khám lâm sàng, siêu âm, CT và soi ổ bụng trong cấp cứu là 35%. Ðiều trị phẫu thuật chiếm đa số (90,5%) trong đó có bảo tồn lách bằng khâu và cắt một phần lách (30%) và bảo tồn không mổ 9,5% nâng tỷ lệ bảo tồn lách là 39,5%.
Biến chứng sau mổ là 7%, thường gặp là chảy máu lại sau mổ: tử vong là 1% (thuộc nhóm cắt lách) và bảo tồn lách không có tử vong.
SUMMARY
RESULTS OF TREATMENT OF SPLENIC RUPTURE IN THE ADULT
Between November 1999 and July 2001, there were 200 splenic injuries in blunt abdominal trauma and in penetrating abdominal injury. Of the 200 cases, the number of male patients was 163, which was 4.4 times as many as that of female patients (37). The age range was from 2 to 70 years, in which the most common age was from 15 to 40 (80%). The patients were admitted to the hospital in polytrauma (39%) and in abdominal trauma (61%), Which commonly occurred in vehicle accidents (72%).
The patients were divided into 3 groups: splenectomy (60.5%), splenorraphy and partial splenectomy (30%) (preserving operation) and non operative management (9.5%).
Clinical manifestations of splenic trauma were those of hemoperitoneum (48.5%) and peritonitis (16.5%); the diagnosis of splenic injury was established by clinical examination, ultrasonography, computed tomography (CT) and abdominal laparoscopy with accuracy of 35%. The majority of patients were operated on (90.5%)in which preserving operation (suture and partial splenectomy) and non operative management were performed in 30% cases and 9.5% cases, respectively: therefore conservatism in the management of splenic injury was increased in the management of splenic injury was increased to 39.5%.
Postoperative complications were 7%, the most common one was postoperative bleeding. Mortality rates were 1% (in the group of splenectomy) and none in the group of non operative management.
Ðặt vấn đề
Trong 20 năm qua đã có sự thay đổi lớn về điều trị vỡ lách chấn thương. Cơ sở của sự thay đổi điều trị vỡ lách chủ yếu là phẫu thuật cắt lách đã gây nên hậu quả sự nhiễm khuẩn cấp các vi khuẩn có vỏ bọc (OPSI) và gây nên tử vong nếu không sử dụng vaccine(2,5,6,7). Do đó các tác giả trên thế giới có khuynh hướng bảo tồn lách trong cấp cứu.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, CT xoắn ốc và soi ổ bụng chẩn đoán trong cấp cứu, các phẫu thuật viên đánh giá được chính xác hơn mức độ tổn thương lách, phân độ vỡ lách và tiên lượng hướng điều trị bảo tồn lách trong hai lĩnh vực: phẫu thuật bảo tồn lách và bảo tồn lách không mổ. Từ đó hạn chế được kỹ thuật cắt lách theo quan điễm cổ điển.
Ở Việt Nam cũng có nhiều báo cáo thành công trong điều trị vỡ lách ở người trưởng thành: BV Việt Ðức phát triển kỹ thuật khâu và cắt cực lách, BV Nhân Dân Gia Ðịnh thực hiện soi ổ bụng đánh giá khuynh hướng chảy máu của độ vỡ lách, BV Chợ Rẫy bắt đầu nghiên cứu tiền cứu kỹ thuật khâu, cắt một phần lách và điều trị không mổ trong một số trường hợp vỡ lách chấn thương kể từ 11/1999, và bước đầu có thành công trong việc nâng tỷ lệ bảo tồn lách trong vỡ lách chấn thương.