NHẬN
XÉT TỈ LỆ NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN DẢI HEO Ở NGƯỜI
TỪ 1992- 12/2000
Phan Anh Tuấn*, Trần Thị Kim Dung *
TÓM TẮT
Trong 3814 bệnh nhân nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng được xét nghiệm bằng kỹ thuật ELISA có 163 trường hợp dương tính, tỉ lệ 4,3%. Có 92 nam, 71 nữ. Tỉ lệ nhiễm không khác nhau về giới và tuổi (p>0,05). Trong các bệnh nhân có triệu chứng thần kinh thì triệu chứng nhức đầu tỉ lệ nhiễm là 10,9%, và CT có nang ở não thì tỉ lệ nhiễm 6,7%, có bạch cầu ái toan trong máu tăng (> 5%) tỉ lệ nhiễm 6,9%. Trong thời gian 9 năm, tỉ lệ nhiễm tăng cao nhất vào năm 1997, sau đó giảm dần
SUMMARY
INVESTIGATION OF SEROPREVALENCE OF CYSTICERCOSIS FROM 1992 TO 12/2000
In a 9 -year period, serum samples from 3814 patients suspected of having parasites were tested by ELISA to detect antibodies to Cysticercus cellulosae. Of the 3814, 163 (4.3%) were positive. Ninety-two patients (56.4%) were males and seventy-one (43.6%) females. There was no significant difference according to age and sex. The seroprevalence of cysticercosis reached 10.9% in patients who presented headache and 10.9% in patients who had cyst in brain.
ÐẶT VẤN ÐỀ
Bệnh ấu trùng sán dải heo là bệnh nhiễm bởi ấu trùng sán dải heo do nuốt trứng. Thực tế sán dải heo trưởng thành ký sinh ở ruột không gây tác hại bao nhiêu ngoài rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh, không gây chết người.
Sự hiện diện nang ấu trùng của sán dải này ở người nguy hiểm hơn nhiều vì nang ấu trùng thường ký sinh ở hệ thần kinh, tạng phủ có thể gây chết người.
Người có thể mắc bệnh ấu trùng sán dải heo theo 2 cách:
- Nuốt trứng vì ăn thức ăn vấy bẩn hoặc tay dơ có trứng đưa vào miệng hay uống nước nhiễm bẩn. Ðây là cách nhiễm thông thường nhất, số lượng trứng thường không lớn.
- Tự nhiễm: bình thường những đốt già sán dải heo theo phân ra ngoài. Ðôi khi có một vài đốt già sau khi tách rời khỏi thân sán được đưa lên dạ dày bởi nhu động ruột. Cách nhiễm này số lượng phôi lan tràn trong cơ thể rất cao gây nhiễm toàn thân.
Bệnh ấu trùng sán dải heo phổ biến rộng khắp thế giới nhưng phụ thuộc vào tập quán ăn uống, tình hình vệ sinh công cộng. Nơi nào quản lý phân không tốt, sử dụng phân người để bón rau, thả heo rong, ăn thịt nấu không chín thì tỉ lệ mắc bệnh cao.
Theo tài liệu Tổ chức Y tế Thế giới bệnh này phổ biến ở Châu Á, Châu Phi và các nước Nam Mỹ. Ở Châu Á thường gặp ở các nước như Trung Quốc, Ấn Ðộ, Indonesia, Malasia. Các nước Nam Mỹ như Ecuador Peru Bolivia. Năm 1995, Xu và cs nghiên cứu tình hình nhiễm ký sinh trùng tại Trung Quốc thì thấy rằng tỉ lệ nhiễm amip, các loại giun lây truyền từ đất giảm. Trong khi đóù bệnh ký sinh trùng lây truyền từ thực phẩm như bệnh ấu trùng sán dải heo tăng lên đáng kể(15).
Theo đánh giá của Schantz, trên thế giới có khoảng 4 triệu người nhiễm sán dải heo ở ruột và khoảng 50 triệu người nhiễm ấu trùng sán dải heo. Ít nhất 50,000 người chết mỗi năm(13).
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nhiệt độ và độ ẩm môi trường thường cao. Ðiều kiện vệ sinh môi trường kém, xử lý chất thải của người và vật nuôi chưa hợp vệ sinh. Trong cộng đồng dân cư vẫn còn thói quen ăn thức ăn chưa nấu chín nhất là những món có nguồn gốc từ thịt heo như nem chua, tiết canh. Ðó là những điều kiện tốt để bệnh sán dải heo và bệnh ấu trùng sán dải heo phát triển. Theo kết quả điều tra thuộc Viện Ký sinh trùng Sốt rét thì tỷ lệ nhiễm sán dải heo ở vùng đồng bằng là 2% vùng trung du và miền núi là 6% dân số(1), còn bệnh ấu trùng sán dải heo đã gặp nhiều trong lâm sàng. Ngoại trừ bệnh ấu trùng sán dải heo ở dưới da chẩn đoán trực tiếp bằng phương pháp sinh thiết, còn thì bệnh ấu trùng sán dải heo ở nội tạng chẩn đoán khó, có thể chẩn đoán bằng hình ảnh như X - quang, CT scanner, MRI. Xu hướng ngày nay là dùng phương pháp miễn dịch học để chẩn đoán như: thử nghiệm cố định bổ thể, phản ứng ngưng kết hồng cầu, miễn dịch điện di, CEIA (Erythroimmunoadsortion by capture), EITB (electroimmunotransfer blot), ELISA
Theo công trình nghiên cứu của các tác giả Garcia, Pialarissi, Retamal thì phương pháp miễn dịch ELISA có độ nhạy cao nên chúng tôi ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh ấu trùng sán dải heo, từ đó tìm hiểu tỉ lệ nhiễm trong thời gian từ 1992 đến 12/2000.
ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Ðối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân trẻ em và người lớn đến khám bệnh hay nhập viện tại các bệnh viện hay phòng khám thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng, hay có công thức máu có bạch cầu ái toan tăng.
Loại nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Thời gian nghiên cứu:
từ năm 1992 đến năm 12/2000
Phâân tích số liệu
Các phép thống kê mô tả sẽ được dùng để tính các yêu cầu của đề tài
Dùng phép kiểm c 2, với độ tin cậy 95% để kiểm định kết quả