Nguyễn
Thị Minh Kiều1,2, Nguyễn Thị Kim Hưng1, Nguyễn
Văn Chuyển2*
Mối liên quan giữa chất béo trong khẩu phần ăn và nguy cơ ung thư vú đã được biết đến từ nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên động vật và nghiên cứu dịch tễ trên người(5). Gần đây, qua nghiên cứu về axít béo trong huyết thanh của người Việt nam(10,11), chúng tôi quan tâm đến khẩu phần chất béo của người Việt Nam và nguy cơ ung thư vú. Vì vậy, trong bài viết này, bằng sự thu thập các tư liệu từ nhiều nghiên cứu trên thực nghiệm cũng như dịch tễ học ở các quốc gia, chúng tôi trình bày vai trò của các loại axít béo trong cơ chế bệnh sinh ung thư vú. Ðồng thời, chúng tôi cũng đề cập đến các khẩu phần chất béo khác nhau về số lượng và chất lượng, đi kèm với tỉ lệ mắc bệnh cũng như tỉ lệ tử vong do ung thư vú khác nhau giữa các quốc gia. Tất cả thông tin này nhằm mục đích gợi ý một khẩu phần chất béo hợp lý cho việc phòng ngừa nguy cơ ung thư vú ở người Việt Nam.
Từ hơn nữa thế kỷ nay, Tannenbaum và Silvertone(21) đã mô tả một khẩu phần ăn nhiều chất béo sẽ kích thích sự phát triển ung thư vú ở chuột khi so với khẩu phần ăn ít chất béo. Nhiều nghiên cứu sau đó cũng cho thấy rằng các giai đoạn trong quá trình bệnh sinh ung thư vú bao gồm giai đoạn khởi đầu, kích thích, tiềm ẩn, phát triển và di căn đều có thể bị ảnh hưởng bởi chất béo trong khẩu phần. Cho đến 1990, Freedman và cộng sự(7) đã tóm tắt trên 100 nghiên cứu về mối liên quan giữa chất béo trong khẩu phần, năng lượng tiêu thụ toàn phần và trọng lượng cơ thể đối với sự phát triển ung thư vú ở chuột. Ông đã kết luận rằng sự gia tăng số lượng chất béo trong khẩu phần có ảnh hưởng chuyên biệt đối với quá trình phát sinh ung thư vú.
Khi mà các chứng cứ của mối liên quan giữa số lượng chất béo và bệnh ung thư vú được chấp nhận, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi vào tìm hiểu mối liên quan giữa ung thư vú với chất lượng trong khẩu phần chất béo.
Các loại chất béo trong khẩu phần ăn bao gồm axít béo bão hòa (saturated fatty acid, SFA), axít béo không bão hòa một nối đôi (monounsaturated fatty acid, MUFA) và axít béo không bão hòa nhiều nối đôi (polyunsaturated fatty acid, PUFA). Thành phần chính của loại SFA trong khẩu phần ăn là axít palmitic (C16:0), kế đến là stearic (C18:0), myristic (C14:0) và lauric (C12:0). Axít palmitic chiếm khoảng 25% trọng lượng axít béo toàn phần của chất béo động vật (các loại thịt, mỡ, bơ, sữa, phó mát) nhưng chỉ chiếm 6-10% trong dầu thực vật. Axít stearic chiếm khoảng 15-20% trong chất béo động vật nhưng chỉ 4-5% trong dầu thực vật. Sữa và các sản phẩm từ sữa chứa tương đối số lượng lớn axít lauric và myristic. Các loại dầu có nhiều axít lauric chẳng hạn như dầu dừa, dầu cọ (palm kernel oil) thường được dùng trong công nghiệp làm bánh kẹo. Loại không bão hòa một nối đôi MUFA chính trong khẩu phần ăn là axít oleic (C18:1, n-9). Axít oleic có trong tất cả các loại dầu và mỡ, đặc biệt dầu ôliu (olive oil) và dầu hạt cải (rapeseed oil). Loại không bão hòa nhiều nối đôi PUFA gồm họ PUFA n-6 và PUFA n-3. Cả hai họ đều là nguồn axít béo quí mà cơ thể không tổng hợp được, chỉ được cung cấp từ thức ăn. Axít linoleic (LA, C18:2, n-6) có trong các loại hạt và dầu thực vật như dầu mè, đậu nành, đậu phọng, hướng dương, bắp. Axít alpha-linolenic (ALA, C18:3, n-3) có trong các loại rau xanh đậm và một số loại dầu thực vật như dầu hạt cải, dầu đậu nành. Các loại cá nhiều chất béo sống ở vùng nước lạnh, sâu như cá thu, cá ngừ, cá trích là những nguồn thực phẩm giàu loại n-3 chẳng hạn như EPA (eicosapentaenoic, C20:5, n-3) và DHA (docosahexaenoic, C22:6, n-3). Thực vật biển như tảo, rong là nguồn thức ăn của cá cũng giàu loại n-3.
Năm 1978, Carroll và Hopkins(3) đã phát hiện sự khác nhau có ý nghĩa giữa SFA và n-6 PUFA trong quá trình gây ung thư vú. Trên mô hình chuột được gây ung thư bằng DMBA (7,12 - dimethylbenz(a) - anthracene), khẩu phần chất béo có 20% loại dầu nhiều n-6 (dầu bắp, dầu hướng dương) gây ra số u vú nhiều gấp 2 lần so với khẩu phần có 20% loại dầu nhiều SFA (dầu dừa, bơ, mỡ bò). Hơn nữa, họ đã nhận thấy khẩu phần có 20% loại dầu nhiều SFA không làm tăng hoặc tăng ít số u vú so với khẩu phần chỉ có 0,5% loại dầu n-6. Hopkins và Caroll cũng đã quan sát trên những trường hợp có khẩu phần kết hợp giữa SFA và n-6 PUFA. Chẳng hạn như, chuột được nuôi bằng 17% dầu dừa cùng với 3% dầu hướng dương phát triển số u vú nhiều như là nhóm chuột nuôi bằng 20% dầu hướng dương. Từ đó, họ đã kết luận rằng, một số lượng nhỏ loại n-6 được đòi hỏi như là nhu cầu căn bản cho việc gây ung thư vú của khẩu phần giàu SFA. Kết luận này được hỗ trợ thêm bởi các nghiên cứu của Ritskes-Hoitinga và cộng sự(17) trên mô hình chuột nhắt Balb/c được gây ung thư vú bằng virus (MMTV, Mouse Mammary Tumour Virus).
Ðối với axít béo loại MUFA, các nghiên cứu đã gợi ý rằng loại này có tác dụng trái ngược với loại n-6 trong tác dụng gây ung thư vú. Trên mô hình chuột bị gây ung thư bằng NMU (N-methyl-N-nitrosourea), tác dụng bảo vệ của khẩu phần giàu loại MUFA chủ yếu từ dầu ôliu đã được chứng minh bởi Takeshita và cộng sự(20). Tỉ lệ gây ung thư vú trên chuột mô hình NMU được nuôi bằng khẩu phần giàu axít oleic (MUFA) thấp hơn một cách có ý nghĩa so với chuột được nuôi bằng khẩu phần giàu axít linoleic (18:2 n-6). Những kết quả này cũng đã được xác nhận thêm trong các nghiên cứu gần đây về mối liên quan giữa MUFA và nguy cơ ung thư vú.
Năm 1985, Jurkowski và Cave(8) đã thực hiện một chuỗi những thực nghiệm để so sánh ảnh hưởng của những khẩu phần chất béo loại n-6 và n-3 đối với sự phát triển ung thư vú. Họ dùng mô hình chuột NMU và các khẩu phần ăn thực nghiệm được bắt đầu vài ngày sau khi cho liều hoá chất gây ung thư đầu tiên. Kết quả cho thấy rằng, khẩu phần giàu n-3 không kích thích gây ung thư vú mặc dù với số lượng tương đương như khẩu phần giàu n-6. Ngoài ra, khi gia tăng tỉ lệ của dầu cá giàu n-3 trong khẩu phần từ 0,5% lên 20%, tỉ lệ của u vú giảm và thời gian tiềm ẩn của u kéo dài hơn. Tiếp theo, trên mô hình chuột DMBA, Braden và Carrol(2) cũng đã báo cáo những kết quả tương tự khi nuôi chuột bằng khẩu phần n-3. Trong những nghiên cứu sau đó, Cave và cộng sự(4), cũng như Karmali và cộng sự(9) đã so sánh hiệu quả của khẩu phần giàu n-3 với khẩu phần kết hợp giữa n-3 và các loại chất béo khác. Họ đều đi đến kết luận, khẩu phần kết hợp với dầu cá giàu n-3 có khả năng làm chậm sự sinh u vú so với khẩu phần kết hợp với tỉ lệ tương đương loại dầu n-6. Những tác dụng trái ngược nhau của n-6 và n-3 trong qúa trình phát sinh ung thư vú còn được báo cáo ở cả những mô hình ghép u trên chuột. Các khẩu phần giàu n-3 cũng cho thấy các loại EPA và DHA đều có thể làm giảm sự phát triển u nguyên phát và īdi căn phổi trên chuột C3H được cấy tế bào ung thư MM48. Bên cạnh đó, ngay cả những khẩu phần giàu n-3 từ nguồn thực vật (axít alpha-linolenic, C18:3, n-3) cũng cho thấy hiệu quả ức chế sinh ung thư vú trên chuột Balb/c. Munoz và cộng sự(15) đã báo cáo rằng chuột được nuôi bằng những khẩu phần ăn như thế vừa kéo dài sự sống, vừa giảm trọng lượng u, cùng với khuynh hướng giảm di căn so với các nhóm chứng.
Nói tóm lại, qua những nghiên cứu trên chuột, khẩu phần loại SFA được nhận thấy có tác dụng kích thích yếu và loại n-6 có tác dụng kích thích mạnh quá trình phát sinh bệnh ung thư vú. Trái lại, loại n-3 và MUFA có hiệu quả bảo vệ chống ung thư và loại n-3 được chú ý nhiều hơn MUFA trong vai trò này.
Nguyên nhân tại sao axít béo loại n-6 có tác dụng kích thích mạnh gây ung thư, trong khi loại n-3 có hiệu quả bảo vệ chống ung thư, hiện nay chưa được giải thích rõ ràng. Có nhiều giả thuyết về vấn đề này. Quy trình chuyển hoá của các loại axít béo n-6 và n-3 trong cơ thể hoàn toàn khác nhau như ở hình 1. Axít béo n-3 chủ yếu chuyển hoá thành axít eicosapentaenoic (EPA) và docosahexaenoic (DHA), trong khi n-6 chủ yếu chuyển hoá thành axít arachidonic. Có giả thuyết cho rằng axít arachidonic (n-6) kích thích sự tăng trưởng và di căn của tế bào ung thư vú, bởi các chất sinh ra do sự xúc tác của lipoxygenase, thí dụ như axít hydroperoxy-5,8,10,14-eicosatetraenoic (HPETE) và axít hydroxy-5,8,10,14-eicosatetraenoic (HETE). Ngoài ra, do sự xúc tác của cyclooxygenase, axít arachidonic còn sinh ra một lượng lớn prostaglandin E2 (PGE2) và leukotriene B4 (LTsB4). Các loại HPETE, HETE, PGE2, LTsB4 có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú. Ngược lại, các loại axít béo n-3 làm giảm các chất kể trên trong cơ thể. Còn có giả thuyết cho rằng axít béo n-3 có hiệu quả kích thích các tế bào ung thư chết (apotosis) sớm. Trên đây là giả thuyết chính hiện nay về tác dụng của các loại axít béo n-6, n-3 trên tế bào ung thư. Còn nhiều giả thuyết khác đang tranh cãi, có lẽ còn phải mất nhiều năm nghiên cứu để giải quyết vấn đề này.