Bàn luận

Viêm não Nhật Bản chiếm một tỉ lệ lớn (46%) trong bệnh viêm não cấp nhập Bệnh viện Nhi Ðồng I. Các trường hợp bệnh phân bố rải rác ở các tỉnh và các huyện ngoại thành, TP Hồ Chí Minh. Bệnh xảy ra lẻ tẻ, không ghi nhận những trẻ xung quanh mắc bệnh tương tự ở các trường hợp này. Ở miền Bắc, bệnh có thể xảy ra thành những vụ dịch lớn. Sự khác biệt giữa hai miền nam bắc, có thể là do yếu tố khí hậu. Miền nam thuộc vùng có khí hậu nhiệt đới, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm không cao. Trong khi đó, ở miền bắc, vào mùa hè rất nóng, tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi, vectơ truyền siêu vi viêm não Nhật Bản phát triển(1). Bệnh xảy ra chủ yếu ở vùng nông thôn (87%), bởi vì ký chủ chính trong thiên nhiên của siêu vi viêm não Nhật Bản là heo và các loại chim; và những cánh đồng lúa là nơi thuận lợi cho sự sinh sôi, phát triển của muỗi(7).

Lứa tuổi mắc bệnh thường gặp là 2 đến 9 tuổių. Nước ta là vùng lan truyền của siêu vi viêm não Nhật Bản. Do đó, đa số người lớn đã có kháng thể trong máu do nhiễm siêu vi không có triệu chứng lâm sàng hoặc ở thể nhẹ không có triệu chứng thần kinh, vì vậy ít có nguy cơ mắc bệnh(6,7). Trẻ rất nhỏ được sự bảo vệ bới kháng thể truyền từ mẹ qua nhau thai(7). Trong lô bệnh nhân này, trường hợp nhỏ tuổi nhất là 5 tháng. Bệnh khởi phát khá nhanh, khởi đầu trẻ bị sốt có kèm theo ói mửa, nhức đầu. Ở giai đoạn toàn phát, triệu chứng thần kinh rầm rộ với rối loạn tri giác ở nhiều mức độ khác nhau, co giật, co gồng mất não hoặc mất vỏ, dấu thần kinh khú trú. Trong những trường hợp nặng, thường kèm theo rối loạn hô hấp. Tuy triệu chứng thần kinh rất nặng nề nhưng chỉ có 28% các trường hợp có phù gai thị và đa số là ở mức độ nhẹ. Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm não Nhật Bản ở trẻ em miền nam không khác so với ở miền bắc(2,3,4). Về cận lâm sàng, dịch não tủy có thể bình thường hoặc thay đổi nhẹ kiểu viêm màng não nước trong. Công thức bạch cầu tăng cao trong những trường hợp có bội nhiễm. Tiểu cầu thay đổi không đáng kể. CRP (C reactive Protein) tăng cao trong những trường hợp bội nhiễm. Tử vong do viêm não Nhật Bản còn cao, 20%. Và gần phân nửa (42%) các trường hợp sống sót có di chứng thần kinh ở nhiều mức độ. Tử vong do viêm não Nhật Bản là hậu quả của tổn thương nặng nề hệ thần kinh trung ương (hoại tử tế bào não, phù não) hoặc do các biến chứng kèm theo, đặc biệt là biến chứng bội nhiễm (viêm xẹp phổi và nhiễm trùng huyết). Vấn đề chẩn đoán xác định viêm não Nhật Bản, hiện nay, chủ yếu là dựa vào kết quả thử nghiệm ELISA tìm thấy kháng thể IgM kháng với siêu vi viêm não Nhật Bản trong dịch não tủy. Việc tìm thấy kháng thể IgM trong huyết thanh không đủ khẳng định bệnh viêm não Nhật Bản, bởi vì trong vùng lan truyền của siêu vi, như ở nước ta, thì số người nhiễm siêu vi không triệu chứng hoặc mắc bệnh ở thể nhẹ rất nhiều. Do đó, người nhiễm siêu vi viêm não Nhật Bản có thể có kháng thể IgM lưu hành trong máu và có một bệnh lý khác gây triệu chứng thần kinh. Kháng thể IgM của siêu vi viêm não Nhật Bản có thể kháng chéo với các loại siêu vi khác trong nhóm flavivirus(7). Ở miền nam Việt Nam, đặc biệt phải lưu ý đến bệnh sốt xuất huyết, nhất là dạng não. Trong lô bệnh của chúng tôi, không có trường hợp nào có biểu hiện lâm sàng hoặc cận lâm sàng gợi ý bệnh sốt xuất huyết. Về điều trị bệnh viêm não Nhật Bản, cho đến nay, vẫn chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu nào. Quan trọng nhất vẫn là điều trị triệu chứng và điều trị nâng đỡ, phòng ngừa và điều trị các biến chứng. Việc chủng ngừa bệnh viêm não Nhật Bản đã giảm tỉ lệ mắc bệnh tại các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài Loan và ở miền bắc nước ta. Loại vaccin bất hoạt hóa có nguồn gốc từ não chuột được sản xuất tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài Loan, Thái lan và Việt nam, được sử dụng cho các trẻ nhỏ hai liều đầu tiên và sau đó nhắc lại từ 4 đến 6 lần cho đến lúc 15 tuổi. Hiệu quả của loại vaccin này là 91%(7). Việc kiểm soát vectơ truyền bệnh và chủng ngừa cho heo cũng được tổ chức y tế thế giới khuyến cáo nhằm giảm tỉ lệ mắc bệnh viêm não Nhật Bản ở người.

Kết luận

Biểu hiện lâm sàng nổi bật nhất trong bệnh viêm não Nhật Bản ở trẻ em tại BV Nhi Ðồng I là sốt và rối loạn tri giác, co giật, gồng chi. Ðây là một nguyên nhân quan trọng trong bệnh viêm não cấp ở trẻ em. Tỉ lệ tử vong còn cao và di chứng thần kinh còn nặng nề. Nên đưa chủng ngừa viêm não Nhật Bản vào chương trình tiêm chủng bắt buộc cho những trẻ có nguy cơ cao mắc bệnh.

Tài liêu tham khảo

  1. Ðỗ Quang Hà (1999), "Hội chứng não cấp và bệnh viêm não Nhật Bản ở các tỉnh phía nam từ 1976 đến 1998", Thời sự Y dược học, 99 (8), tr: 208-212.
  2. Le DH (1986), "Clinical aspects of Japanese B encephalitis in North Vietnam". Clin Neurol Neurosug 1986, vol.88-3, pp:189-192.
  3. LE Dh, LE TL, LUONG TH, HO TYT (1998), "Japenese encephalitis in Bach mai hospital, Hanoi,1980-1989, Neurol J Southeast Asia 1998; 3, pp: 69-74.
  4. Lowry PW., Trương DH, Le DH (1998), " Japenese encephalitis among hospitalized pediatric and adult patients with acute encephalitis syndrome in Ha Noi, Vietnam 1995"Am J Trop med hyg, 58(3), pp:324-329.
  5. Nguyễn Chương (2000), "Viêm não Nhật bản ở trẻ em", Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
  6. Nguyễn Thế Hùng (1997), "Bệnh viêm não siêu vi", Bệnh Truyền Nhiễm, Nhà xuất bản Y học, Bộ môn Truyền Nhiễm Ðại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, tr:377-398.
  7. Tsai TF. (2000), "Flaviviruses", Principles and practice of infectious diseases. Fifth edition, Churchill Livingstone, Vol.2, pp: 1714-1736..