KẾT QUẢ

Ðể phát hiện tối ưu sự kết hợp của kháng nguyên, kháng thể và cộng hợp, các thành phần thành được thử nghiệm với nhiều độ pha loãng khác nhau. Kết quả cho thấy nồng độ tối ưu của kháng nguyên là 3 µg/ ml, độ pha loãng tối ưu của cộng hợp và của kháng thể là 1/1000 và 1/400.

Với các nồng độ nêu trên, chúng tôi tiến hành thử nghiệm với 20 mẫu huyết thanh của người khỏe mạnh. Trung bình cộng (X) của 20 mẫu này có trị số OD là 0,136, và độ lệch chuẩn (SD) là 0,011. Ngưỡng phân biệt âm tính và dương tính được tính theo công thức: X + 5 SD = 0,191. Những mẫu có OD ³ 0,191 được xem là dương tính.

Ðối với 4 mẫu của những người bị nhiễm A. cantonensis thì kết quả ELISA cho thấy OD giao động từ 0,265-0,640.

Trong 12 trường hợp viêm màng não-não, viêm màng não-tủy, viêm tủy tăng bạch cầu toan tính có 11 trường có kết quả dương tính với A. cantonensis, tỷ lệ 91,6%. Trị số OD giao động từ 0,217 - 0, 630 (Bảng 1).

Kết quả của ELISA giữa kháng nguyên A. cantonensis và huyết thanh của những người bị nhiễm loài giun sán, đơn bào khác gồm 115 mẫu cho thấy có 19 mẫu có trị số OD bằng và cao hơn trị số ngưỡng, tỷ lệ 16,5%. Có 3 loài giun sán cho dương tính giả, đó là Gnathostoma spinigerum (11/15 mẫu) Paragonimus sp. (4/15 mẫu) và Toxocara canis (2/12 mẫu) (Bảng 2).

Bảng1. Kết qủa ELISA (OD) và tỷ lệ dương tính với kháng nguyên A. cantonensis của những mẫu huyết thanh của những người bị nhiễm A. cantonensis, nghi ngờ nhiễm A. cantonensis và người khỏe mạnh.

Ðối tượng

Số mẫu

Dương tính

OD³ 0,191

% dương tính

Mắc bệnh A. cantonensis

4

4 (0,265 - 0,640)

100

Nghi ngờ nhiễm A. cantonensis

12

11 (0.217 - 0.630)

91,6

Khoẻ mạnh

20

0 (0.031 - 0.172)

100

Kết quả của ELISA giữa kháng nguyên A.. cantonensis và huyết thanh của những người bị nhiễm loài giun sán, đơn bào khác gồm 115 mẫu cho thấy có19 mẫu dương tính, tỷ lệ 16,5%. Có 3 loài giun sán cho dương tính giả, đó là Gnathostoma spinigerum (11/15), Paragonimus sp. (5/16) và Toxocara canis (2/12) (Bảng 2).

Bảng 2. Kết qủa ELISA (OD) và tỷ lệ dương tính với kháng nguyên A. cantonensis của những mẫu huyết thanh của những người bị nhiễm các loại KST khác.

Các loại bệnh nhiễm

Số mẫu

Dương tính

OD ³ 0,191

%

dương tính

Gnathostoma spinigerum

     

- VT, VMN tăng BCTT

8

8 (0,147 - 0.685)

100

- Phù di chuyển ngoài da ± tăng BCTT

7

3 (0,185 - 0.384)

42,8

Ascaris lumbricoides

5

0

0

Giun móc

3

0

0

Trichuris trichiura

2

0

0

Strongyloides stercoralis

18

0

0

Toxocara canis

12

2 (0,132 - 0,315)

15

Toenia saginata

8

0

0

Cysticercus cellulosae

5

1

0

Fasciola sp.

14

0

0

Clonorchis sinensis

2

0

0

Paragonimus sp

15

4 (0,136 - 0,241)

26,6

Entamoeba histolytica

9

0

0

Toxoplasma gondii

6

0

0

Tổng cộng

115

19

 

BÀN LUẬN

Trong công trình này, chúng tôi nghiên cứu điều chế kháng nguyên và dùng kháng nguyên này để phát hiện kháng thể trong máu của người bị nhiễm Angiostrongylus cantonensis, là loài thường gặp nhất ở người. Mầm bệnh xâm nhập vào người ở dạng ấu trùng giai đoạn 3 và ở người, chúng không phát triển đến giai đoạn trưởng thành được. Chúng tôi dùng ấu trùng giai đoạn 3 để làm kháng nguyên, vì nghĩ rằng kháng nguyên được điều chế từ giun ở cùng giai đoạn phát triển với mầm bệnh ở trong cơ thể bệnh nhân cho kết quả tốt hơn.

Nồng độ protein trong dung dịch kháng nguyên tối ưu là 3 m g/ml.

Trị số trung bình cộng và độ lệch chuẩn của 20 mẫu huyết của những người khỏe mạnh X + SD = 0,136 + 0,011. Ngưỡng để phân biệt âm tính và dương tính: X ± 5 SD = 0, 136 ± 0,055 = 0,191. Như vậy, kết quả được xem là dương tính khi có trị số OD ³ 0,124. Với ngưỡng này, cả 4 mẫu huyết thanh lấy từ bệnh nhân đã bắt được ấu trùng đều có trị số OD cao hơn, không có trướng hợp âm tính giả.

Trong 12 trường hợp viêm màng não-não, viêm màng não-tủy, viêm tủy tăng bạch cầu toan tính có 11 trường có kết quả dương tính với A. cantonensis, tỷ lệ 91,6% hơi thấp hơn so với kết quả của Jaroonvesama và cs. (1985) (96%).

Phản ứng chéo thường hay gặp trong một số bệnh nhiễm ký sinh trùng. Trong công trình của chúng tôi, dương tính giả được nghi nhận ở 3/13 loài KST được thử, đó là Gnathostoma spinigerum, Paragonimus sp. và Toxocara canis. Tỷ lệ dương tính giả nói chung là 16,5. Trường hợp Gnathostoma spinigerum có tỷ lệ dương tính giả cao (73,3%), đặc biết với thể thần kinh như viêm màng não tủy, viêm tủy cắt ngang (100%). Phản ứng chéo giữa kháng nguyên A. cantonensis và kháng thể kháng GnathostomaToxocara sp. cũng đã được Jaroonvesama đề cập tới.

Phản ứng chéo giữa A. cantonensis, G. spinigerumParagonimus sp. có thể xảy ra vì chúng đều là KST của động vật, đều lây truyền vào người qua thực phẩm sống như cá, tôm cua chưa chín, nên chúng có nhiều thành phần kháng nguyên tuơng đồng. Trong tình trạng tỷ lệ nhiễm KST nói chung ở người dân chúng ta còn cao, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường còn kém, một người có thể nhiễm nhiều loại giun sán cùng lúc. Vấn đề được đặt ra là cần có biện pháp nâng cao sự hiểu biết của người dân để họ tự phòng bệnh và cải thiện mội trường. Về phía chúng ta, cần tìm thêm những kỹ thuật phát hiện kháng nguyên hoặc kỹ thuật điều chế kháng nguyên tinh khiết để có thể chẩn đoán chính xác hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO