SO
SÁNH HIỆU QUẢ ÐIỀU TRỊ GIỮA FLUCONAZOLE
VÀ CLOTRIMAZOLE TRONG ÐIỀU TRỊ VIÊM ÂM ÐẠO DO NẤM
Nguyễn Duy Tài*, Huỳnh Thị Thu Thảo**
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện ở BV Nhân Dân Gia Ðịnh từ tháng 2/2001 đến tháng 7/2001 nhằm so sánh hiệu quả điều trị viêm âm đạo (VAÐ) do nấm đơn phát của 2 phác đồ: Clotrimazole 100 mg (Canesten 100 mg) đặt âm đạo (ÐAÐ) mỗi tối 1 viên trong 6 ngày liên tiếp và Fluconazole 150 mg (Funcan 150 mg) uống 1 viên liều duy nhất. Ðây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng, bao gồm 64 bệnh nhân ở nhóm Clotrimazole và 62 bệnh nhân ở nhóm Fluconazole. Kết quả: Hiệu quả điều trị của Clotrimazole có xu hướng cao hơn Fluconazole, nhưng vẫn không khác biệt có ý nghĩa thống kê: Tỉ lệ đáp ứng lâm sàng (LS) của Clotrimazole vàFluconazole lần lượt là 96.87% và 95.16% (p=0.68). Tỉ lệ khỏi bệnh lần lượt là 85.94% và 74.19% (p=0.1)ä. Tác dụng phụ rất ít ở cả 2 nhóm. Kết luận: Fluconazole 150 mg uống liều duy nhất có hiệu quả điều trị và an toàn tương tự Clotrimazole 100 mg ÐAÐ trong 6 ngày liên tiếp và nó có thể là 1 cách điều trị thay thế, thích hợp cho những bệnh nhân khó tuân thủ điều trị
SUMMARY
COMPARE THE EFFICACY OF FLUCONAZOLE AND CLOTRIMAZOLE IN THE TREATMENT OF CANDIDA VAGINITIS
The study was carried out at Nhan Dan Gia Dinh hospital from Febuary to July, 2001 to compare the efficacy and safety of a 6-day Clotrimazole 100 mg (Canesten 100 mg) vaginal treatment with a single oral 150 mg dose of Fluconazole (Funcan 150 mg) in the treatment of sporadic Candida vaginitis. This is a randomized, controlled clinical trial including 64 and 62 patients treated with Clotrimazole and Fluconazole respectively.Results: The efficacy of Clotrimazole is likely better than that of Fluconazole, but no statistically significant differences were seen between two groups in clinical responses and cure rates: The clinical responses were seen in 96.87% in the Clotrimazole group and 95.16% in the Fluconazole group (p=0.68). The cure rates were seen in 85.14% in the Clotrimazole group and 74.19% in the Fluconazole group (p=0.1). There were very few side effects in both groups. Conclusions: Fluconazole administered as a single dose 150 mg oral dose is proved to be as safe and effective as 6 days of intravaginal Clotrimazole treatment of Candida vaginitis, and therefore, it might be one choice in this treatment and appropriate for patients without compliance..
ÐẶT VẤN ÐỀ
VAÐ do nấm là một bệnh thường gặp ở các phòng khám phụ khoa. Mặc dù bệnh VAÐ do nấm là bệnh điều trị ngoại trú, với triệu chứng ngứa, bỏng rát âm hộ âm đạo có thể gây khó chịu cho bệnh nhân rất nhiều, đôi lúc gây rối loạn chức năng tình dục và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Do đó, các vấn đề liên quan đến điều trị bệnh này đã được nghiên cứu nhiều. Các thuốc kháng nấm thường dùng trong điều trị gồm họ polyenes và họ azoles. Họ azoles được ưu chuộng nhiều hơn vì thuốc có nhiều dạng sử dụng và có hiệu quả kháng nấm cao, ít tác dụng phụ và thời gian điều trị ngắn hơn họ polyenes. Clotrimazole ÐAÐ thường được dùng trong điều trị vì nó có hiệu quả điều trị cao, tỉ lệ khỏi bệnh sau điều trị một tuần là 72-93%(1,3,5,7). Tuy nhiên, vấn đề dùng thuốc ÐAÐ có một số khó khăn như bệnh nhân không biết cách đặt thuốc, bệnh nhân đang ra kinh, tuổi, tình trạng gia đình và ý thích của bệnh nhân, đa số bệnh nhân thích sử dụng đường uống hơn. Chính vì những lý do này mà làm cho bệnh nhân khó tuân thủ điều trị, làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc. Nhóm thuốc Triazole kháng nấm đường uống ra đời sau này, đã được chứng minh là ít tác dụng phụ hơn Ketoconazole và có thể giúp khắc phục những khó khăn trên. Do thuốc kháng nấm đường uống có cách dùng tiện lợi hơn nên giúp bệnh nhân dễ tuân thủ điều trị hơn và đặc biệt thích hợp cho những bệnh nhân còn độc thân. Ngoài ra, thuốc kháng nấm đường uống còn có tác dụng diệt nấm đường tiêu hóa, là nguồn chứa nấm có thể gây tái định cư nấm ở vùng tầng sinh môn và gây VAÐ do nấm tái nhiễm. Gần đây, Fluconazole được dùng phổ biến trong điều trị bệnh VAÐ do nấm vì cách dùng đơn giản, thời gian điều trị ngắn, ít tác dụng phụ, có hiệu quả điều trị cao và an toàn trong điều trị, tỉ lệ khỏi bệnh sau điều trị một tuần từ 76 - 95%(1,3,5,7).
Ða số các nghiên cứu đều cho rằng hiệu quả điều trị giữa Fluconazole và Clotrimazole như nhau(1,2,3,5,7). Tuy nhiên, hiệu quả điều trị của Fluconazole và Clotrimazole như thế nào ở Việt Nam thì chưa được đánh giá. Vấn đề này được các bác sĩ lâm sàng quan tâm và cũng góp phần giúp ích trong chọn lựa cách điều trị VAÐ do nấm cho phụ nữ ở TP. HCM. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị giữa 2 phác đồ điều trị: Clotrimazole 100mg ÐAÐ mỗi tối 1 viên trong 6 ngày liên tiếp và Fluconazole 150mg uống liều duy nhất.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
So sánh hiệu quả điều trị VAÐ do nấm của2 phác đồ điều trị này.
Mục tiêu cụ thể
So sánh tỉ lệ có đáp ứng LS, tỉ lệ khỏi bệnh, tỉ lệ định cư nấm, thời gian giảm triệu chứng LS, và đánh giá tác dụng phụ của 2 phác đồ điều trị.
ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ðối tượng
Bệnh nhân có triệu chứng VAÐ đến khám phụ khoa ở BV Nhân Dân Gia Ðịnh từ tháng 2/2001-7/2001.
Tiêu chuẩn nhận bệnh:
- Bệnh nhân có ít nhất 1 trong các triệu chứng VAÐ sau: ngứa, bỏng rát AHAÐ, huyết trắng bợn sữa, đỏ AÐ
- Xét nghiệm soi tươi và nhuộm Gram huyết trắng: pH<4.5, có sợi nấm/ búp nấm
- Chưa điều trị bằng thuốc kháng nấm nào
Tiêu chuẩn loại trừ
- Có thai, đang điều trị lao, corticoid kéo dài, tiểu đường, VAÐ do nấm tái phát, viêm cổ tử cung, nhiễm khuẩn âm đạo hay Trichomonas kèm theo, không tuân thủ điều trị và không tái khám.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng
Cách tiến hành
Các bệnh nhân có triệu chứng VAÐ đều được hỏi kỹ tiền căn, bệnh sử, khám thực thể và được lấy 2 mẫu huyết trắng ở túi cùng bên hoặc túi cùng trước âm đạo, tránh chạm vào chất nhầy cổ tử cung khi lấy huyết trắng. Một mẫu được thử pH bằng giấy thử pH (giấy thử của Merck) ngay lúc khám, mẫu còn lại được gởi ngay tới phòng xét nghiệm của BV để làm soi tươi và nhuộm Gram huyết trắng ngay. Những bệnh nhân có pH âm đạo < 4,5 (giấy thử màu cam-vàng) và trên kết quả soi nhuộm huyết trắng có dạng sợi hoặc dạng búp nấm, không có nhiễm Trichomonas và không có clue cell sẽ được đưa vào mẫu nghiên cứu. Các bệnh nhân này sẽ được đánh số thứ tự và được phân nhóm ngẫu nhiên tuỳ theo số thứ tự lẻ hay chẵn: số lẻ sẽ vào nhóm I (nhóm Clotrimazole), số chẵn sẽ vào nhóm II (nhóm Fluconazole).
Phác đồ điều trị
- Nhóm I (nhóm Clotrimazole): Clotrimazole 100 mg (CANESTEN 100mg) đặt âm đạo mỗi tối 1 viên trong 6 ngày liên tiếp.
- Nhóm II (nhóm Fluconazole): Fluconazole 150 mg (FUNCAN 150mg) uống 1 viên liều duy nhất
Cả 2 nhóm đều được hướng dẫn vệ sinh phụ nữ, mặc quần thoáng mát, không giao hợp cho đến khi tái khám lần 1, và điều trị bạn tình bằng kem bôi Canesten 1%.
Hẹn tái khám
Tái khám lần 1 sau điều trị 1 tuần để đánh giá kết quả điều trị ngắn hạn. Những bệnh nhân khỏi bệnh sẽ được hẹn tái khám lần 2 sau 1 tháng để đánh giá kết quả điều trị dài hạn, nhằm theo dõi tái phát. Những bệnh nhân chưa khỏi bệnh (định cư nấm và thất bại) sẽ được điều trị lại.
Ðánh giá hiệu quả điều trị
Có đáp ứng LS khi hết các triệu chứng LS
- Khỏi bệnh khi kết quả soi nhuộm huyết trắng âm tính
- Ðịnh cư nấm khi có đáp ứng LS và soi nhuộm huyết trắng còn nấm
- Thất bại khi không có đáp ứng LS và soi nhuộm huyết trắng còn nấm
Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 7.5 For Windows.