BÀN LUẬN
* Bệnh do sán lá lớn ở gan Fasciola sp có khác gì giữa trẻ em so với người lớn tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh? Theo ghi nhận của chúng tôi thì các dấu hiệu như đau, sốt, biếng ăn không có gì khác biệt. Còn các triệu chứng ói, mệt, dị ứng thì ở trẻ em lại rõ nét hơn ở người lớn.
* Ở Việt Nam, ngòai sán lá lớn Fasciola sp còn có sán lá nhỏ thuộc họ Opisthorchiidea, cả hai đều gây bệnh ở gan. Trong thời gian qua, chúng tôi đã ghi nhận được vài trường hợp nhiễm sán họ Opisthorchiidea tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới song bệnh do sán họ Opisthorchiidea chủ yếu gặp ở miền Bắc Việt nam, đó là sán Clonorchis sinensis. Gần đây, đã có báo cáo cho thấy tại miền Trung, ở một số xã ven biển thuộc tỉnh Phú Yên, bệnh đang lưu hành lại là sán Opisthorchis viverrini.
Các tác giả Bùi Văn Chương và Ðặng Văn Tuấn(6) đã nghiên cứu, điều trị và theo dõi 210 trường hợp nhiễm Opisthorchis viverrini tại miền Trung. So sánh các trường hợp nhiễm sán Fasciola sp của chúng tôi với các trường hợp nhiễm sán Opisthorchis viverrini của các tác giả trên, chúng tôi nhận thấy có một số điểm đáng chú ý sau:
Tuổi và phái
|
Phái |
|||
|
Nam |
Nữ |
||
|
35 trường hợp <16tuổi tại TTBNÐ |
Số trường hợp % |
12 34% |
23 66% |
|
Tổng số 404 trường hợp Fasciola sp tại TTBNÐ |
Số trường hợp % |
124 31% |
280 69% |
|
210 trường hợp Op. viverrini của N-V- Chương |
Số trường hợp % |
140 66% |
70 34% |
Lâm sàng
|
Các biểu hiệu lâm sàng |
||||||||
|
Ðau |
Sốt |
Gan to |
Vàng da |
Dị ứng |
Ói |
Mệt |
||
|
35 trường hợp <16tuổi tại TTBNÐ |
Số ca (%) |
30 (89) |
16 (46) |
1 (2,8) |
3 (8,6) |
14 (40) |
9 (26) |
|
|
Tổng số 404 trường hợp Fasciola sp tại TTBNÐ |
Số ca (%) |
360 (89) |
230 (57) |
10 (3,5) |
10 (3,5) |
46 (11,4) |
26 (6,4) |
|
|
210 trường hợp Op. viverrini của N-V- Chương |
Số ca (%) |
30 (14) |
73 (35) |
35 (16,7) |
54 (25,7) |
|||
Xét nghiệm phân:
|
Có trứng trong phân |
||
|
35 trường hợp <16tuổi tại TTBNÐ |
Số trường hợp % |
2+/ 35 5,7% |
|
Tổng số 404 trường hợp Fasciola sp tại TTBNÐ |
Số trường hợp % |
14+/ 285 5% |
|
210 trường hợp Op. viverrini của N-V- Chương |
Số trường hợp % |
210+/ 210 100% |
Về tuổi mắc bệnh
Dưới 16 tuổi trong bệnh do Fasciola là 35/ 404 trường hợp, chiếm 8,6%; so với bệnh do Opisthorchiidea, số bệnh nhân dưới 20 tuổi là 6/ 210, chiếm 2,85%. Ghi nhận trên đã cho thấy, tuổi mắc bệnh do Fasciola trẻ hơn bệnh do Opisthorchiidea.
Về phái
Trong bệnh do Fasciola, ở trẻ em cũng như ở người lớn, tỷ lệ nữ mắc bệnh gấp đôi nam; còn với bệnh do Opisthorchiidea thì tỷ lệ ngược lại, nam gấp đôi nữ. Một nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy trong bệnh do Opisthorchiidea, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới gấp 6 lần nữ giới(10). Phải chăng việc ăn cá sống, thường là gỏi cá sống, không phải là món ăn thông thường hàng ngày mà là một món ăn chơi đi đôi với uống rượu, là thói quen của nam giới hơn là nữ giới và lại là tuổi người lớn?
Về lâm sàng
Giai đọan có biểu hiệu lâm sàng của bệnh do Fasciola là giai đọan sán xâm nhập, do đó các triệu chứng như đau, sốt, ói, buồn nôn là chính. Trong bệnh do Opisthorchiidea, khi bệnh nhân biết mình có bệnh là khi sán đã ở vào giai đọan trưởng thành trong ống mật nên các triệu chứng đau, sốt trở thành thứ yếu, các triệu chứng vàng da, gan to, dị ứng trở nên quan trọng. Ðiều này phù hợp với nghiên cứu của Coudert J(1).
* Cũng vì những lý do vừa nêu trên mà vấn đề xét nghiệm xác định bệnh cũng khác nhau giữa 2 bệnh. Với bệnh do Fasciola, không thể chờ đợi vào việc tìm trực tiếp thấy trứng trong phân để xác định bệnh mà phải gián tiếp dựa vào:
- tỷ lệ bạch cầu toan tính trong máu tăng cao,
- siêu âm gan: khối phản âm hỗn hợp, dầy và trống lẫn lộn, bờ của khối không rõ; trong gan có một hay nhiều khối, kích thước các khối không đều,
- và nhất là phản ứng huyết thanh miễn dịch học.
Còn trong bệnh do Opisthorchiidea, vì bệnh chỉ được nghĩ đến khi sán đã trưởng thành nên chẩn đóan xác định là nhờ trực tiếp tìm thấy trứng sán trong phân. Xét nghiệm huyết thanh miễn dịch học vì thế không cần thiết.
Bệnh do sán lá Fasciola ở người nói chung và ở trẻ em Việt Nam nói riêng cần được đặc biệt quan tâm vì rau sống là một món ăn rất phổ biến, là nhu cầu hàng ngày trong bữa ăn của người Việt Nam nhưng việc chăn nuôi gia súc và trồng rau lại thực hiện trong những điều kiện chưa hợp vệ sinh, việc trồng rau sạch chưa được phổ biến.
Trước kia, bệnh do sán lá Fasciola trên người ít được nói đến ở Việt Nam, chỉ lẻ tẻ một vài trường hợp được báo cáo. Từ những năm 90 cho đến nay, bệnh có chiều hướng bộc phát và tập trung ở các tỉnh miền Trung(7,8,9). Phải chăng, do đàn gia súc được nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây có mang theo những chủng sán có khả năng thích nghi vào người, hơn hẳn chủng nội địa đã tồn tại từ lâu ở Việt Nam? hay môi trường sinh địa cảnh có gì thay đổi?