NHÂN 35 TRƯỜNG HỢP NHIỄM SÁN LÁ LỚN Ở GAN FASCIOLA SP
Ở TRẺ EM, LIÊN HỆ ÐẾN SỰ KHÁC BIỆT VỚI BỆNH
DO SÁN LÁ GAN NHỎ OPISTHORCHIIDEA

Trần Vinh Hiển*, Trần Thị Kim Dung**

TÓM TẮT

Từ năm 1997 đến nay, chúng tôi đã xác định và theo dõi được 404/600 bệnh nhân nhiễm sán lá lớn ở gan Fasciola sp nhập viện tại Tp Hồ Chí Minh, trong đó có 35 trường hợp ở trẻ em. Ða số trẻ đều đến từ các tỉnh miền Trung: Quảng ngãi, Bình định, Phú yên, Khánh hoà. Các bệnh nhân nhi này được điều trị tại thành phố Hồ Chí Minh. Ða số đều có bạch cầu toan tính trong máu từ 16-70% và tất cả có hiệu giá kháng thể từ 1/1600 đến 1/12800 với kháng nguyên là Fasciola gigantica. Kỹ thuật ELISA đã được sử dụng trong công trình này.

Về mặt lâm sàng, bệnh ở trẻ em giống bệnh người lớn ở các biểu hiện đau, sốt, kém ăn. Các biểu hiệu khác như mệt mỏi, nôn, dị ứng, gầy ốm thì ở trẻ em lại rõ nét hơn.

Cũng về mặt lâm sàng, bệnh do sán lá lớn ở gan Fasciola sp thì cấp tính: đau bụng, sốt, buồn nôn.trong khi bệnh do sán lá nhỏ Opisthorchiidea thì những dấu hiệu như gan to, vàng da lại nổi bật

Về cách chẩn đoán, với bệnh do Fasciola sp, vì rất hiếm khi tìm thấy trứng sán trong phân nên chẩn đoán phải dựa vào lâm sàng, bạch cầu toan tính, siêu âm gan va øxét nghiệm miễn dịch học: kỹ thuật ELISA; còn đối với bệnh do sán lá nhỏ ở gan Opisthorchiidea thì chỉ cần soi phân tìm trứng sán là đủ.

Sán lá lớn và sán lá nhỏ ở gan có những điểm khác biệt trên là do cơ chế gây bệnh của hai sán này khác hẳn nhau.

SUMMMARY

The characteristics of Fascioliasis in children and the differences between Fascioliasis and Opisthorchiidea diseases

Trần Vinh Hiển, Trần thị Kim Dung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of Medical Research - Vol. 6 - Supplement of No 1 - 2002: 13 - 17

From 1997 until now, we have confirmed and followed up 404/ 600 cases of human fascioliasis. Among them, there are 35 cases in children. The majority of cases come from the central provinces of Vietnam: Quang Ngai, Binh Dinh, Phu Yen, Khanh Hoa. These children are treated in hospitals at Ho Chi Minh city. All of them have had: high peripheral blood eosinophilic counts (16 - 70%) and positive serology with Fasciola gigantica antigen: positive titers: 1/1600 to 1/12800.

Comparing, the clinical manifestations, between children and adults, we have recognized that they are similar on abdominal pain, fever, lack of appetite. The other signs: fatigues, nausea, allergy of the children are more stronger than the adults.

Still on the clinical manifestations, with Fasciola sp, the signs are: abdominal pain, fever, nausea and vomiting; while Opisthorchiidea, the chronic signs: hepatomegaly, icterus are distinguished.

On the diagnosis, with Fasciola sp, based on clinical manifestation, ultra- sound, high peripheral blood eosinophilic count and ELISA test. With Opisthorchiidea, stool examination to look for the eggs is sufficient. These differences of two kinds of Trematoda due to their mechanism of pathogenicity..

ÐẶT VẤN ÐỀ

Bệnh sán lá gan lớn Fasciola spp trước kia hiếm gặp ở Việt Nam(3), mặc dù lọai sán lá này đã được nhiều tác giả nói đến trên các động vật ăn cỏ từ trên 100 năm nay(5). Trước những năm 90, bệnh do sán này cũng đã gặp lẻ tẻ ở người lớn(2). Từ 1997 đến 2000, Trung tâm Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh đã ghi nhận tất cả trên 400 trường hợp(7,8). Trong báo cáo này, chúng tôi trình bày 35 trường hợp gặp ở trẻ em dưới 16 tuổi (7% của tổng số được ghi nhận). Chúng tôi muốn qua những trường hợp nhiễm ở trẻ em này, tìm hiểu thêm những đặc điểm của bệnh sán lá gan lớn, đồng thời cũng so sánh với bệnh do sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidea, là lọai sán cũng ký sinh trong gan, trưởng thành trong ống mật nhưng cơ chế gây bệnh lại khác hẳn: ấu trùng sán lá gan lớn từ ruột non xuyên qua mô gan, phá tế bào gan để vào ống mật, trong khi sán lá gan nhỏ thì đi luồn theo các nhánh của ống mật để định vị trong ống mật. Về cách nhiễm bệnh thì sán lá lớn ở gan do ăn rau sống mọc dưới nước, còn sán lá nhỏ là do ăn cá nước ngọt có chứa nang trùng.

NHỮNG ÐẶC ÐIỂM CỦA BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN FASCIOLA SPP

Tuy là bệnh được ghi nhận ở Trung tâm Bệnh nhiệt đới nhưng tất cả trẻ em trong nghiên cứu này đều đến từ các tỉnh miền Trung: Quảng Ngãi 14, Bình Ðịnh 11, Khánh Hòa 5, Ðà Lạt 5, trong đó nam là 12 bệnh nhân, nữ là 23. Có 1 nam chỉ mới 16 tháng tuổi.

Các triệu chứng ghi nhận lúc nhập viện

- Ðau: 30/ 35 trường hợp, đau vùng hạ sườn phải hoặc vùng thượng vị, đau có tính chất ngấm ngầm hoặc từng cơn, có trường hợp đau đến mức phải xin đi cấp cứu

- sốt: 16/ 35 với tính chất âm ỉ

- óùi: 14/ 35

- mệt, sụt cân: 9/ 35

- dị ứng (nổi mẩn, ngứa, đau khớp): 3/ 35

- gan to: 1/35

Chẩn đóan trước lúc nhập viện

- áp xe gan do vi trùng nhưng điều trị không giảm: 7 trường hợp

- nhiễm trùng đường ruột: 4

- viêm dạ dày: 4

- ung thư gan: 2

- giun chui ống mật: 1

Thời gian bệnh nhân đau trước khi nhập viện:

- dưới 2 tháng: 22 (62,85%)

- trên 3 tháng: 9 (25,71%)

Kết quả các xét nghiệm cận lâm sàng

Tỷ lệ bạch cầu ái toan trong máu tăng cao: trên 10%, có trường hợp lên đến 80%.

Xét nghiệm men gan SGOT và SGPT thấy bình thường.

Phản ứng huyết thanh miễn dịch học (kỹ thuật ELISA) với kháng nguyên chiết xuất từ sán trưởng thành. Với kháng nguyên này, không có phản ứng chéo với huyết thanh người bị nhiễm sán lá nhỏ thuộc họ Opisthorchiidea. Ðể bảo đảm tính đặc hiệu và độ nhạy cảm, ngưỡng dương tính được chọn ở độ pha lõang huyết thanh là 1/1600. Hầu hết các trường hợp ghi nhận ở báo cáo này đều dương tính trên 1/6400.

Siêu âm gan: sang thương thường tập trung ở vùng thùy phải: 22 trường hợp. Có 8 trường hợp ở thùy trái. Các sang thương được mô tả là những khối phản âm hỗn hợp: dầy và trống lẫn lộn, bờ của khối không rõ; trong gan có một hay nhiều khối, kích thước các khối không đều. Hình ảnh này phù hợp với những ghi nhận trong một công trình khác(10). Có 2 trường hợp giống như hemangioma, 1 trường hợp được xem như làviêm gan thể mãn, 1 có gan to với ascite nhẹ.

Xét nghiệm phân tìm trứng sán thì chỉ có 2/ 35 trường hợp dương tính.

ÐIỀU TRỊ

Tất cả được điều trị bằng Emétine. Có 2 trường hợp (1 em 16 tháng tuổi và1 em 13 tuổi) được điều trị thử bằng Praziquantel nhưng bệnh không giảm nên sau đó cũng phải chuyển qua Emétine. Sau 10 ngày điều trị, tất cả đều hết sốt.

Có 17 em tái khám sau 2 tháng. Kết quả cho thấy về lâm sàng, tình hình chung có cải thiện; siêu âm hầu hết đều không còn thấy hình ảnh bất thường; tỷ lệ bạch cầu ái toan đều trở xuống dưới 5%; riêng hiệu giá kháng thể thì chưa giảm.

Có 1 em tái khám sau 2 tháng thì phải điều trị Emétine đợt nhì vì hình ảnh siêu âm gan không cải thiện, tỷ lệ bạch cầu ái toan vẫn còn cao. Sau lần điều trị này, không thấy em này trở lại tái khám.