Hình ảnh vi thể

Ở hạch hầu hết các trường hợp đều có cấu trúc hạch bị xóa hoàn toàn, với các tế bào u sắp xếp rời rạc, lan tỏa. Ðặc biệt có một trường hợp hạch chỉ mất cấu trúc một phần, phần còn lại các tế bào ác tính xếp dạng nang tuyến, đôi chỗ kết thành mảng giống hình ảnh của một carcinôm tuyến hoặc sarcôm phần mềm dạng nang di căn hạch. Có một trường hợp các tế bào bị ép dẹp, kéo dài như tế bào sợi, đa số các tế bào đều méo mó, dị dạng, nhiều phân bào.

Ở 75% trường hợp, u gồm một hỗn hợp tế bào có kích thước nhỏ (tương đương với limphô bào), trung bình (nhân gấp đôi limphô bào) và to (nhân gấp 2,5 - 3 lần limphô bào). 25% trường hợp ưu thế tế bào to.

Các tế bào có nhân không điển hình, có viền nhân không đều chiếm 80% chỉ 20% trường hợp có nhân tròn đều chiếm ưu thế, Chất nhiễm sắc thường thô, chỉ 10% trường hợp tế bào u có chất nhiễm sắc mịn. Các tế bào u thường có hạt nhân to rõ, hoặc nhỏ, chỉ 10% trường hợp tế bào u không có hạt nhân. 80% có trường hợp tế bào u có số lượng nhân nhiều hơn một, hai trường hợp có đại bào dạng Langhans (Chẩn đoán: limphôm Lennert) (hình 1). Trong hầu hết các trường hợp đều hiện diện mô bào, 78% có tế bào dạng biểu mô, 50% hiện diện tương bào, 64% có bạch cầu toan tính, 71% có bạch cầu trung tính (hình 2). 90% có tăng sản tiểu tĩnh mạch sau mao mạch, tăng sản mạch máu với vách dày, hyalin hóa trong 10% các trường hợp (chẩn đoán: Limphôm T, loại tăng sản mạch máu). 93% có mật độ phân bào từ ít (1 - 5 phân bào / quang trường x 40), trung bình (6 - 10 phân bào / quang trường x 40), nhiều (> 10 phân bào/ quang trường x40). Hiện tượng hoại tử tế bào có trong 60% các trường hợp, đặc biệt có một trường hợp hiện tượng hoại tử kèm theo rất mạnh và các tế bào u có khuynh hướng xâm nhập mạch máu (Limphôm T hướng mạch).

Phân loại limphôm

Các limphôm trên được phân loại theo bảng phân loại REAL(2)