KẾT QỦA

Tỉ lệ nhiễm

Bảng 1: Tỉ lệ nhiễm Vi nấm Candida sp. trong các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS

Số ca

Tần suất

Tỉ lệ (%)

205

176

85,9

Vị trí ký sinh

Bảng 2: Vị trí nhiễm nấm trong các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS

Vị trí nhiễm nấm

Tần suất

Tỉ lệ (%)

Họng- miệng

161

91,5

Họng -thực quản

15

8,5

Tổng cộng

176

100

Nhận xét: Nhiễm Candida sp. ở vùng họng miệng chiếm tỉ lệ cao

Các loài vi nấm

Bảng 3: Các loài Candida gây bệnh ở vùng họng miệng của các bệnh nhân

Tên vi nấm

Tần suất

Tỉ lệ (%)

C. albicans

107

64,1

C. tropicalis

18

10,1

C. krusei

15

9

C. stellatoidae

6

3,5

C. guilliermindii

1

0,6

Candida khác

20

11,9

Không phải Candida sp

2

1,2

Nhận xét: Trong số các loài Candida gây bệnh, C. albicans chiếm tỉ lệ cao nhất trong các trường hợp được phát hiện

Mối liên hệ giữa vi nấm và sang thương

Bảng 4: Mối liên hệ giữa nhiễn vi nấm vùng miệng và sang thương

Biểu hiện lâm sàng

Kết quả cấy vi nấm

Có sang thương

Không sang thương

Tổng cộng

Vi nấm (+)

143

95,3%

33

60%

176

Vi nấm (-)

7

4,7%

22

40%

29

Tổng cộng

150

55

205

Nhận xét: Những trường hợp có sang thương tỉ lệ vi nấm (+) cao gấp hơn không sang thương (P<0,000)

BÀN LUẬN

Candida spp là những loài vi nấm nội hoại sinh ở người. Theo nghiên cứu của Samaranayake và cs., sự hiện diện cuả vi nấm này ở những người khoẻ mạnh chiếm tỉ lệ từ 20%-40%(2).

Qua khảo sát 205 bệnh nhân gồm 179 nam (87,3%) và 26 nữ (12,7%) có 176 trường hợp nhiễm vi nấm Candida spp. chiếm tỉ lệ 85,9%. Theo các nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài các sang thương do vi nấm này ở vùng họng miệng chiếm tỉ lệ từ 43% đến 64% ở bệnh nhân HIV(3).

Trong những trường hợp nhiễm vi nấm thì vùng họng miệng chiếm tỉ lệ 91,5% (161/176), thực quản 8,5% (15/176).

Ở các bệnh nhân nhiễm vi nấm Candida ở vùng họng miệng, các sang thương thường gặp là những mảng giả mạc màu trắng hoặc hơi vàng chiếm đa số. Các dạng sang thương khác như dạng tăng sản, hoặc sang thương dạng teo mất gai với niêm mạc trơn, láng màu đỏ hoặc các sang thương viêm góc lưởi xung huyết hoặc lở loét khoé mép miệng ít gặp hơn.

Các bệnh nhân có sang thương vùng họng miệng thường than phiền là chán ăn, đau họng. Những bệnh nhân nhiễm Candida sp. ở vùng họng-thực quản có các triệu chứng nuốt đau, nuốt khó, nuốt vướng, đau ngực.

Trong số những bệnh nhân có sang thương thì tỉ lệ vi nấm dương tính là 95,3% (143/150).

Kết quả cấy nấâm cho thấy có nhiều loài Candida gây bệnh ở vùng họng. Trong nghiên cứu này, loài Candida albicans chiếm tỉ lệ cao (52,5%). Ðịnh danh các loài Candida khác bằng phương pháp đồng hoá đường và lên men đường cho thấy các loài Candida thường gặp là Candida tropicalisCandida krusei.

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 205 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm Bệnh Nhiệt Ðới có 176 trường hợp Candida (+) ở vùng họng chiếm tỉ lệ 85,9%. Trong các loài Candida gây bệnh thì Candida albicans chiếm tỉ lệ cao. Trong các bệnh nhân có sang thương thì tỉ lệ vi nấm Candida sp (+) là 95,3%.

TÀI LIỆU THAM KHẢO