Ðối chiếu Lâm sàng và Giải phẫu bệnh
của Carcinom tuyến dạ dày

Ðỗ Ðình Công*

TÓM TẮT

Mục đích: Mục tiêu của đề tài nhằm khảo sát một cách cơ bản và hệ thống về mô bệnh học có đối chiếu với lâm sàng

Phương pháp và Kết quả: Thống kê mô tả, tiền cứu. Lô nghiên cứu gồm 100 bệnh nhân carcinom tuyến dạ dày, được cắt dạ dày và theo dõi tối thiểu 20 tháng sau mổ. Lứa tuổi thường gặp từ 60-69 tuổi, xuất độ gặp ở nam trên nữ là 2,1. Số trường hợp có biến chứng còn khá cao: 21% bệnh nhân bị hẹp môn vị, 6 % bị thủng dạ dày, đa số bệnh nhân ở giai đoạn III và IV (78,3%). 57,6% có vị trí ung thư ở vùng hang môn vị, 25,4% ở ngay góc bờ cong nhỏ. Dạng loét sùi: 29 trường hợp, dạng loét có bờ thâm nhiễm: 45 trường hợp (44,3%), dạng thâm nhiễm:17 trường hợp (16%). Ða số các trường hợp là loại Carcinom tuyến ống biệt hoá trung bình và biệt hoá rõ. Tương ứng với 77,4% là típ ruột và 22,6% típ lan toả của Lauren. 70,7% trường hợp có di căn hạch, 86 trường hợp (81,1%) có hình ảnh xâm lấn mạch limpho. Tổ chức mô học không đồng nhất trong 41 trường hợp (38,7%), bao gồm sự kết hợp giữa nhóm carcinom biệt hoá và không biệt hoá. Thời gian sống thêm của giai đoạn Ib: 30,0± 3,5 tháng, giai đoạn II: 18,2± 10,3 tháng, giai đoạn IIIa:18,8± 8,9 tháng, giai đoạn IIIb:17,7± 9,0 tháng, giai đoạn IV: 14,7± 9,6 tháng.

Kết luận: Xuất độ tip ruột, tip lan toả và vị trí của carcinom tuyến dạ dày gần như không thay đổi trong hơn thế kỷ qua. Xuất độ carcinom tuyến dạ dày ở giai đoạn xâm nhập khá cao (56,6% ở giai đoạn III, 21% ở giai đoạn IV). Cả tip ruột và tip lan toả đều có xuât độ xâm lấn thanh mạc cao. Nguyên nhân chính làm tiên lượng xấu là bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn

SUMMARY

Adenocarcinoma of the Stomach:
Comparison between Pathology and Clinical

Do Dinh Cơng * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of Medical Research - Vol. 6 - Supplement of No 1 - 2002: 6 - 12

Purpose: Descriptions of invasion (depth and extension) in gastric wall of gastric adenocarcinomas. - Identification of invasive degree. - Identification of differentiation grades. - Applying these results in treatment and prognosis

Methods and Results: The histological and clinical features of 106 Vietnamese patients with advanced gastric cancer were analysed in a prospective study from 1998 to 2000. Distal part gastric cancers were still more common than proximal (83% versus 04%). The proportion of intestinal type and diffuse type was 77% and 23%, respectively. Both intestinal and diffuse type presented with extremely serosal involvement (average square: 10.7 and 10.3cm2, respectively). There was no difference in signs and symptoms at admission as well as in outcomes. The proportion of hemorrhage, gastric outlet obstruction and perforations were 8,5%, 21% and 6%, respectively. The estimated medium survival was 38 months, 30 months, 18 months, 18 months, 17 months, 14 months in stage IA, IB, II, IIIA, IIIB and IV, respectively. Combination of differetiated and undiffferentiated adenocarcinoma in 39%.

Conclusion: The proportion of the intestinal type and diffuse type and location of gastric adenocarcinomas remained nearly unchanged during more than one century in Viet Nam. The incidence of advanced gastric cancer was very high (stage III: 56,6% and IV:21%). Both intestinal and diffuse types presented with extremely serosal involvements. The principal determinant of poor prognosis continues to be due to admission in advanced stage.

Ðặt vấn đề

Việt Nam nằm trong vùng có tỉ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày khá cao. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, ung thư dạ dày có xuất độ chuẩn hoá theo tuổi là 18.8/100.000 dân ở nam giới_ đứng hàng thứ ba sau ung thư gan và ung thư phổi, xuất độ này là 7.3/100.000 dân ở nữ giới_ đứng hàng thứ tư sau ung thư cổ tử cung, ung thư vú và ung thư đại trực tràng(11).

Có khá nhiều luận án và nhiều công trình nghiên cứu về ung thư dạ dày được công bố ở Việt nam. Về phương diện bệnh học, có nhiều báo cáo(3,8,12,14,15,18). Tuy nhiên, những chi tiết mô tả về đại thể và vi thể trong đa số những báo cáo trên chưa được hệ thống hoá hoặc mới được hệ thống một phần và không theo phân loại hiện nay của quốc tế.

Mục tiêu của đề tài nhằm khảo sát một cách cơ bản và hệ thống về mô bệnh học có đối chiếu với lâm sàng. Ðây là nền tảng giúp chẩn đoán sớm và chính xác ung thư dạ dày, để xây dựng nội dung điều trị cho toàn diện giúp cải thiện tiên lượng của người bệnh.