ÐÁNH
GIÁ HIỆU QUẢ SULPROSTONE
TRONG ÐIỀU TRỊ BĂNG HUYẾT SAU SANH DO ÐỜ TỬ CUNG
Nguyễn Duy Tài *, Nguyễn Thái Hà**
Tóm tắt
Nghiên cứu tiền cứu được tiến hành tại BV Từ Dũ để đánh giá kết quả điều trị 79 bệnh nhân BHSS do đờ TC từ 01/10/2000 đến 30/04/2001, được điều trị ngay với Sulprostone (Nalador). 92,4% bệnh nhân có hiệu quả với Sulprostone đơn liều. 3,8% thất bại phải chuyển sang điều trị phẫu thuật. 7,3% trường hợp có tác dụng phụ là buồn nôn và hạ HA. Tuy nhiên, bệnh nhân hồi phục ngay sau khi ngưng thuốc.
Summary
SULPROSTONE IN TREATMENT OF POSTPARTUM HEMORRHAGE AT TU DU HOSPITAL
* Special issue of Medical Research - Vol. 6 - Supplement of No 1 - 2002: 39 - 41
Study was conducted to evaluate the effectiveness and safety of treatment for 79 the post partum hemorrhage patients by atony uterine at Tu Du hospital from October 1st 2000 to April 30th 2001, Result: 92.4% effective with 500 m g Sulprostone, 3.8% with 1000 m g and 3.8% have to treat by surgery. Adverse effects: mause, hypoblood pressure # 7,3% and they recovery after stopping Sulprostone.
ÐẶT VẤN ÐỀ
- Băng huyết sau sanh (BHSS) đứng hàng đầu trong năm tai biến sản khoa, chiếm tỷ lệ 2-10% tổng số sanh, riêng BHSS thể nặng chiếm 1%(1).
Theo WHO ước tính hàng năm có khoảng 20 triệu trường hợp bệnh lý do BHSS gây ra làm thiệt hại nặng nề về thể chất và tinh thần cho người phụ nữ(2,3,4)
Hiện nay, người ta ghi nhận có sự gia tăng số trường hợp BHSS ở những sản phụ có chuyển dạ kéo dài, thai quá to, đa sản, xử trí không phù hợp ở giai đoạn sổ nhau khi đã kích thích TC quá mức(6). Chính vì vậy mà hầu hết các trung tâm sản khoa đều có phác đồ dự phòng và điều trị BHSS, ngoài Oxytocin, Ergometrine nhiều tác giả còn nhắc đến Prostaglandin E(7,8)
Nhiều nghiên cứu cho thấy Sulprostone (PG E2) tác động lên cả thân lẫn CTC. Sự co cơ TC được ổn định, hiệu quả nhanh chóng nhất là trong những trường hợp BHSS do đờ TC. Tại BVTD (1998) có 1/3 các trường hợp BHSS phải tiến hành phẫu thuật sau khi thất bại với Oxytocin và Ergometrine. Trong tình hình đó, chúng tôi nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị cuả Sulprostone trong BHSS do đờ TC tại BVTD. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào chất lượng điều trị.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiền cứu: thử nghiệm lâm sàng không nhóm chứng được tiến hành tại BVTD từ 01/10/2000 đến 30/4/2001. Ðề cương nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng khoa học tại Bộ môn Sản trường ÐHYD tp.HCM.
Các sản phụ có thai từ 36 tuần trở lên sau sanh, có BHSS do đờ TC và Hb ³ 8,5 mg%. Sản phụ được truyền ngay HTM 9% 250 ml + Nalador 500 m g với vận tốc khởi đầu là 40 giọt/phút và có thể tăng liều tuỳ trường hợp cụ thể (tối đa 160 giọt/phút). Sản phụ được theo dõi sát: M, HA, nhiệt độ, lượng máu mất,... cho đến khi ổn định.
Yếu tố đánh giá kết quả
Lượng máu mất từ khi sổ thai đến khi được ra trại, được chia làm 4 độ (theo Thomas J. Benedetti)
|
Ðộ máu mất |
Lượng máu mất |
|
I II III |
500-900 900-1500 1500-2100 ³ 2100 |
CTM toàn phần được thử trước sanh (nhận bệnh) và sau sanh 2 giờ (hậu sản) trước khi sản phụ được chuyển ra trại. Chúng tôi tập trung vào khảo cứu Hb.
Thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng được ghi nhận qua đánh giá lâm sàng:
. TC có khối cầu an toàn
. Ấn đáy TC không thấy ra máu từ AÐ
Các tác dụng phụ: ¯ HA, ói, buồn nôn, nhức đầu, đau hạ vị, tiêu chảy, tăng thân nhiệt,...
Tất cả các thông tin về đặc điểm sản phụ, các đáp ứng điều trị, liều thuốc, thời gian theo dõi,. được ghi nhận vào bảng câu hỏi phần mềm Excel được dùng để quản lý số liệu và SPSS 10.05 for Windows để phân tích số liệu.