MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM BERTIELLA STUDERI Ở NGƯỜI
Lê Thị Xuân*, Trần Vinh Hiển**
Tóm tắt
Một trường hợp nhiễm Bertiella studeri đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam. Một em bé trai 4 tuổi nhà ở Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, đi tiêu ra các đốt sán. Thời gian bị nhiễm và cách bị nhiễm không được rõ. Triệu chứng chủ yếu là chán ăn, tiêu khi lỏng khi đặc và sụt cân. Bệnh nhân đã được điều trị với Niclosamide (Yomesanâ ) với liều 1gram. và Albendazole (Zentelâ ) 400 mg/ngày trong 3 ngày, nhưng không khỏi bệnh. Ngoài ra, chúng tôi còn phát hiện em bị nhiễm Giardia lamblia, cho em dùng Flagentyl và hẹn tái khám sau 1 tuần. Ðến nay, chúng tôi vẫn chưa thấy gia đình đưa em trở lại để điều trị tiếp.
Summary
FIRST CASE OF HUMAN INFECTION WITH BERTIELLA STUDERI IN VIET NAM
We reported the first case of Bertiella studeri infection in a 4-year boy, living in Cai Lay, Tien Giang, a province of Mekong Delta, South Viet Nam. The time and the mode of infection was unknown. The patient had anorexia, intermittent diarrhoea, and loss weight. He was treated unsuccessfully first with Niclosamide 1g (Yomesan) and then with Albendazole (Zentel) 400mg/day in 3 days. Morover, the child was found to be also infected with Giardia lamblia and was treated with Flagentyl. We recommended that the patient should come back after one week for the treatment of Bertiella studeri, but he has not returned yet.
MỞ ÐẦU
Bertiella sp. là một loài sán dây thuộc họ Anoplocephalidae. B. studeri được phát hiện đầu tiên ở loài dã nhân (Pongo pygmaeus pygmaeus) ở Borneo và sau đó được tìm thấy trên nhiều loài khỉ khác như Macaca radiata, Cercopithecus aethiops pygerythrus, Hylobates hoolock. Giai đoạn trưởng thành sống ở ruột của nhiều loài khỉ. Gây nhiễm thực nghiệm, người ta nhận thấy trứng nở ra ấu trùng và ấu trùng phát triển được ở mạt Scheloribates laevigatus và Galumna spp.. Ngoài ra, loài sán dây này còn được tìm thấy ở chó tại Philipin. Có 2 loài được phát hiện ở người: B. studeri, thường gặp ở trẻ em và B. mucronata, gặp ở người lớn. Ðường lây nhiễm vào người chưa rõ, có thể do người ăn phải mạt có mang ấu trùng. B. studeri thường gặp ở trẻ em và B. mucronata gặp ở người lớn. Ðến nay, có vài chục trường hợp người bị nhiễm sán dây này được ghi nhận ở các nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ như Ấn Ðộ, Philippine, Indonesia, Malaya, Thái Lan, Mauritanus, Kenya, Cuba, Paraguay.
Ở Việt Nam, B. studeri đã được tìm thấy ở khỉ vàng (Macaca mulata), vượn đen (Hylobates concolor concolor), vẹc vá (Pygathrix nemacus), vẹc xám (Presbytis phayrei) tại Bắc Bộ, Lai Châu, Cao Bằng, Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng tôi báo cáo trường hợp đầu tiên Bertiella studeri gây nhiễm cho người được phát hiện tại Việt Nam.
BỆNH ÁN
Bệnh nhân là một em bé trai, 4 tuổi, cư ngụ tại thị trấn Cai lậy, tỉnh Tiền Giang. Ngày 8-8-2000, cha mẹ em đem đến cho chúng tôi những đốt sán do em đi tiêu ra. Ðốt sán có màu trắng ngà, chiều ngang lớn hơn chiều cao, có những đốt rời rạc như hạt gạo, có những đốt dính nhau thành chuỗi dài ngắn khác nhau.
Khoảng đầu năm 2000, mặt em bé bị phù và đỏ, giống như bị nổi mề đay. Em được đưa đi khám bệnh ở địa phương và được điều trị với thuốc không rõ loại, triệu chứng phù mặt kéo dài độ 2-3 tuần sau mới khỏi. Sau đó 3-4 tháng, người nhà phát hiện những vật lạ màu trắng, từng đoạn dài ngắn khác nhau lẫn trong phân của em bé. Cha mẹ em đưa lên khám bệnh ở Nhi Ðồng 1, Bác sĩ ở đây chẩn đoán là em bị nhiễm sán dây và cho em uống Yomesan 2 viên (ngày 4/4/2000). Sau đó 3 tháng em lại đi tiêu ra các đốt sán như trên. Lần này, cha mẹ em cho đi khám ở bệnh viện Chợ Rẫy. Em được tẩy sán với Zentel 2 viên/ngày trong 3 ngày (3/7/2000). Một tháng sau, em lại đi tiêu ra đốt sán như trên, cha mẹ em đưa em đến gặp chúng tôi, mang theo cả những đốt sán.
Em bé tỉnh táo, thể trạng gầy, nhỏ hơn so với tuổi. Ăn kém, chán ăn, ngủ được, thỉnh thoảng có kêu đau bụng, đi tiêu khi lỏng khi đặc.
Công thức bạch cầu (3/7/00) cho thấy: BC 7010, N: 37,3%, L 50,4%, E 5,1%, B 0,9%, M 6,3%.
Xét nghiệm phân (8/8/00): phân màu vàng, sệt, không nhày, không máu, có rất nhiều bào nang Giardia lamblia, không tìm thấy trứng Bertiella studeri.
Chúng tôi cho em uống Flagentyl để điều trị G. lamblia và hẹn tái khám 1 tuần sau, nhưng không thấy em trở lại. Ðến tháng 5-2001, cha em đem đến cho chúng tôi những đốt sán, dính nhau thành chuỗi dài và rời rạc từng vài đốt hoặc từng đốt và cho chúng tôi biết gần một năm nay em mới lại đi tiêu ra đốt sán. Vì bận việc làm ăn, nên gia đình em bé hẹn dần việc đưa em đi chữa bệnh.
MÔ TẢ ÐỐT SÁN
Chúng tôi nhận được 2 đợt đốt sán: đốt sán có màu trắng ngà, rời rạc hoặc dính thành chuỗi ngắn, dài khác nhau; đợt 1 được 225 đốt, đợt 2 có tất cả là 343 đốt.
Ðốt sán rộng từ 10 - 13 mm, cao từ 0,9 - 1,3 mm. Các đốt sán co duỗi chậm chạp khi còn sống.
Sau khi nhuộm với carmin, chúng tôi thấy đa số là đốt già, chỉ có vài đốt trưởng thành, trong số này chỉ có 1 đốt thấy rõ các cơ quan sinh dục. Lỗ đẻ nằm xen kẽ cách 1 hoặc 2 đốt, không đều. Các ống bài tiết dọc chạy 2 bên các đốt sán, được nhìn thấy rõ, còn các ống nằm ngang đốt sán không thấy rõ sau khi nhuộm.
Ðốt trưởng thành gồm có 1 bộ sinh dục lưỡng tính, cơ quan sinh dục cái nằm về bên có lỗ sinh dục gồm có buồng trứng hình rẽ quạt, tuyến sinh vỏ ở ngay sau buồng trứng, tuyến noãn hoàng có hình C ở phía sau tuyến tạo vỏ trứng. Tử cung là ống nằm vắt ngang đốt, phân nhánh hình túi về 2 phía trước và sau đốt. Âm đạo có hình phểu. Cơ quan sinh dục đực gồm có nhiều tinh hoàn dạng nang tròn, số lượng từ 214 -240 nang, nằm rãi ngang ở nữa trước của đốt sán.
Ở đốt già, chỉ còn tử cung, hình ống nằm vắt ngang đốt sán, phân nhánh hình túi sang 2 bên, trước và sau của đốt sán, chứa đầy trứng.
Trứng được thu thập từ đốt già, có hình thoi không đều, khi còn tươi có kích thước từ 46 - 57,5 µm, bộ phận hình lê: 23-29,9 µm. x 25,3 - 34,5 µm
Các đặc điểm trên đây cho phép chúng tôi kết luận đây là Bertiella studeri.