PHẪU
THUẬT SỎI SAN HÔ BẰNG CẮT MỞ ÐÀI-BỂ THẬN-THẬN
QUA ÐƯỜNG VÔ MẠCH PHÂN THÙY SAU-DƯỚI
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá kết quả của đường mổ đài - bể thận - thận qua diện vô mạch giữa phân thùy sau - dưới để điều trị sỏi san hô với mục đích giảm tỷ lệ sót sỏi, lượng máu mất và bảo tồn chức năng thận.
Bệnh nhân và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân có sỏi san hô phức tạp được phẫu thuật cắt mở đài- bể thận - thận qua diện vô mạch giữa phân thùy sau-dưới trong thời gian 2,5 năm được nghiên cứu tiền cứu. Các chi tiết về lâm sàng, điều trị và kết quả được thẩm định bằng X quang, sinh hóa máu, nước tiểu đã được ghi nhận.
Kết quả: 75 bệnh nhân với 44 nam và 31 nữ có tuổi trung bình là 50,85 tuổi (trẻ nhất là 25 tuổi và già nhất là 80 tuổi) đã được mổ theo kỹ thuật này. Thời gian phẫu thuật trung bình là 130,5 phút. Tỷ lệ hết sỏi là 94%, lượng máu mất trung bình trong lúc mổ là 170,5ml với 04 trường hợp (6%) phải truyền máu trong lúc mổ. Không có chảy máu thứ phát, rò rỉ nước tiểu hay nhiễm trùng nặng sau mổ. Chụp phim bộ niệu có cản quang sau mổ cho thấy thận mổ bài tiết tốt hơn và giảm trướng nước. Cấy nước tiểu dương tính trong 12 trường hợp (16,21%).
Kết luận: Ðường mổ đài- bể thận- thận mở rộng qua diện vô mạch giữa phân thùy sau-dưới hiệu quả và không quá phức tạp giúp cho bệnh nhân bị sỏi san hô phức tạp hết sỏi với tỷ lệ cao. Thêm vào đó kỹ thuật này giảm lượng máu mất trong lúc mổ và không ảnh hưởng tới chức năng thận.
SUMMARY
Pham Van Bui * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 4 - 2001: 232 - 236
Objective: To evaluate the results of extended calico-pyelo-nephrolithotomy through a vascular plane between posterior-inferior renal segments for the treatment of complex staghorn stone regarding stone-free rate, blood loss and kidney function.
Patients and methods: All patients with complex branching and multiple renal calculi undergoing extended calico-pyelo-nephrolithotomy through avascular plane between posterior-inferior renal segments over 2.5 years were studied prospectively. Clinic and treatment details and outcome, as assessed by X ray, blood, urine and stone chemistry were recorded.
Results: 75 patients with 44 males and 31 females, mean age of 50.85 years (youngest 23 years and oldest 80 years) underwent extended calico-pyelo-nephrolithotomy through avascular plane between posterior-inferior renal segments. Mean operative duration was 130.5 minutes, stones free rate was 94%, mean blood loss volume was 170.5ml with 6% (4 cases) peroperative transfusion. There was no secondary hemorrhage, nor urine leakage nor severe infection in the post-operative period. IVP showed better secretion, less dilated of operated kidney. Urine culture was positive in 12cases (16.21%).
Conclusions: Extended calico-pyelo-nephrolithotomy through avascular plane between posterior-inferior renal segments is an effective and not too-complicated means of rendering patients with complex staghorn calculi stone free. In addition, this surgical technique reduces per-operative blood loss and does not compromise kidney function.
ÐẶT VẤN ÐỀ
Sỏi niệu là một bệnh lý khá thông thường trong chuyên ngành Niệu khoa chiếm tới 51% tổng số các phẫu thuật niệu khoa.
Trong điều trị ngoại khoa sỏi niệu thì sỏi san hô là một tiêu đề đặc biệt rất cần được chú ý vì sỏi san hô biểu hiện một mối đe dọa chính cho thận do sự phối hợp của nhiễm trùng và bế tắc có thể gây phá hủy dần dần chủ mô thận. Vào khoảng 1/3 bệnh nhân có những khiếm khuyết vỏ thận ghi nhận được qua xạ hình thận lúc bắt đầu điều trị. Do vậy, đã có sự thống nhất ý kiến là phải loại trừ hoàn toàn sỏi không được chậm trễ để ngăn chặn tái phát và tổn thương thận thêm nữa(10).
Ðối với điều trị ngoại khoa sỏi san hô, hiện nay có 04 lựa chọn: mổ hở, lấy sỏi qua da (LSQD), Tán sỏi ngoài cơ thể (TSNCT), và phối hợp LSQD+TSNCT(15). Chúng tôi trình bày một phương pháp mổ hở lấy sỏi san hô theo đường đài-bể thận-thận mở rộng qua đường vô mạch giữa phân thùy sau và phân thùy dưới.
BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi thực hiện một nghiên cứu tiền cứu phương pháp mổ hở đài-bể thận-thận mở rộng qua đường vô mạch giữa phân thùy sau và phân thùy dưới để điều trị cho các trường hợp sỏi san hô phức tạp, đầy đủ được phân loại theo G Faure và JP Sarramon(14) C2, R2, B2 (sỏi phức tạp, chủ mô dày, bể thận nội xoang).
Kỹ thuật và phương pháp phẫu thuật đã được trình bày trong báo cáo trước(12). Tất cả các bệnh nhân đều được thử các xét nghiệm sinh hóa căn bản trước mổ, riêng urée và créatinine máu được thử thêm sau mổ để đánh giá ảnh hưởng trên chức năng thận, đặc biệt ở người chỉ có một thận (bẩm sinh, đã bị cắt một bên hay thận còn lại mất chức năng hoàn toàn). Còn các xét nghiệm khác chỉ thử thêm sau mổ khi cần thiết. Trong lúc mổ đánh giá tình trạng chủ mô thận, bể thận để đưa vào lô nghiên cứu, cấy nước tiểu, đánh giá lượng máu mất, thời gian mổ, lượng máu phải truyền.
Sau mổ theo dõi lượng máu phải truyền thêm, các biến chứng như xì dò nước tiểu, nhiễm trùng, chảy máu thứ phát.
Tất cả các trường hợp đều được chụp phim hệ niệu không có và có thuốc cản quang (UIV) trước mổ và 7 ngày sau mổ để theo dõi sót sỏi và ảnh hưởng của phẫu thuật đến thận mổ. Kết quả của phẫu thuật sẽ được so sánh với các phương pháp điều trị sỏi san hô khác kể cả mổ hở nhưng theo đường chẻ đôi thận hay theo kỹ thuật khác.
KẾT QUẢ
Trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 6 năm 2000 có 75 trường hợp sỏi san hô đầy đủ tiêu chuẩn theo định nghĩa được đưa vào lô nghiên cứu. Trong đó nam có 44 trường hợp, nữ 31 trường hợp. Tuổi trung bình là 50,85 tuổi (nhỏ nhất là 23 và lớn nhất là 80 tuổi). Có 27 sỏi san hô bên phải, 31 sỏi san hô bên trái (có 01 trường hợp thận độc nhất, 01 trường hợp sỏi san hô tái phát) và 17 sỏi san hô 02 bên (trong đó có 03 trường hợp đã mổ trước 01 bên ở bệnh viện bạn, vẫn còn sót sỏi; 01 trường hợp do chúng tôi mổ cả 02 lần). Urée trước mổ trung bình là 0,37g/l (thấp nhất là 0,1 và cao nhất là 1g/l); Créatinine trước mổ trung bình là 10,48g/l (thấp nhất là 6g/l và cao nhất là 29g/l). UIV trước mổ cho thấy với sỏi san hô một bên có 05 trường hợp thận có sạn bị câm; 53 trường hợp bị ứ nước với 06 trường hợp giảm tiết; 03 trường hợp viêm mãn; 01 trường hợp ứ nước thận kia do sạn, một thận kia teo, một thận mủ thận kia. Trong 17 trường hợp sỏi san hô hai bên thì 10 trường hợp bị ứ nước hai bên, 01 trường hợp vừa ứ nước vừa giảm tiết với thận kia teo; 01 trường hợp vừa ứ nước vừa giảm tiết với thận kia mủ; 01 trường hợp thận ứ nước với thận kia câm; 01 trường hợp giảm tiết hai bên; 02 trường hợp ứ nước 01 bên và giảm tiết bên kia; 01 trường hợp ứ nước bên có sạn và bên kia đã mổ tốt (trường hợp này do chính chúng tôi thực hiện phẫu thuật cả hai lần).
Thời gian phẫu thuật trung bình là 130.5 phút (ngắn nhất là 100 phút và lâu nhất là 170 phút); Lượng máu mất trung bình là 170.5ml (ít nhất là 50 và nhiều nhất là 500ml), phải truyền máu trong lúc mổ là 4/75 trường hợp (tỷ lệ 5%) với 03 trường hợp truyền 250ml và 01 trường hợp truyền 500ml (không có trường hợp nào phải truyền máu sau mổ). Cấy nước tiểu dương tính trong 12 trường hợp (16,21%). 05 trường hợp sót sỏi tỷ lệ 6% (01 trường hợp sót 04 cục nhỏ ở đài giữa và dưới, 01 trường hợp sót 03 sỏi nhỏ ở đài dưới, 01 trường hợp sót 02 sỏi nhỏ ở đài dưới, 01 trường hợp sót 01 sỏi nhỏ ở đài dưới, 01 trường hợp sót 02 mảnh ở đài dưới) tất cả các sỏi sót đều nhỏ, tuy bệnh nhân không tiểu ra nhưng không ghi nhận biến chứng hậu phẫu nào. Những trường hợp sót sỏi đều do có nhiều sỏi nhỏ phối hợp. Urée sau mổ là 0,33g/l (0,15 - 0,75g/l), créatinine sau mổ là 10,1g/l (5 - 18g/l). Thời gian tiểu máu hậu phẫu trung bình là 2,78 ngày (ngắn nhất là 2 và lâu nhất là 5 ngày). Không có trường hợp nào có biến chứng chảy máu thứ phát, nhiễm trùng hay xì dò nước tiểu sau mổ. UIV đều cho thấy các trường hợp trướng nước đều giảm hay biến mất sau mổ còn những trường hợp thận câm đều bài tiết lại sau mổ.