Bảng 2: Dấu hiệu X quang của 346 trường hợp tắc ruột non.

Hình ảnh

TRÐT(238 ca)

TRTN (108 ca)

Chỉ có MNH chênh

Chỉ có MNH không chênh

Có cả MNH chênh và không chênh:

- số MNH chênh nhiều hơn

- số MNH không chênh nhiều hơn

- số MNH chênh và không chênh bằng nhau

Chuỗi hạt

Chướng hơi ruột non, không MNH

Bình thường

117 (49,1%)

9 (3,8%)

93 (39,1%)

 

60 (25,2%)

15 (6,3%)

 

18 (7,6%)

 

87 (36,5%)

15 (6,3%)

 

4 (1,7%)

17 (15,7%)

31 (28,7%)

24 (22,2%)

 

16 (14,8%)

4 (3,7%)

 

4 (3,7%)

 

33 (30,6%)

22 (20,4%)

 

14 (13,0%)

Nếu xét chi tiết hơn về đặc điểm của MNH thì 49,1% trường hợp TRÐT trên phim bụng chỉ có MNH chênh nhau ở cùng quai ruột trong khi tỉ lệ này ở TRTN là 15,7%, khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,001); 3,8% trường hợp TRÐT trên phim chỉ có MNH không chênh trong khi tỉ lệ này ở TRTN là 28,7%, khác biệt này có ý nghĩa thống kê(p< 0,001); 39,1% trường hợp TRÐT trên phim có cả MNH chênh và MNH không chênh trong khi tỉ lệ này ở TRTN là 22,2%, khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,01). Tổng cộng ở 2 nhóm TRÐT và TRTN có 251/346 trường hợp(72,5%) có MNH chênh trên phim bụng (có và không kèm MNH không chênh).

Trường hợp trên phim bụng có cả MNH chênh và không chênh, nếu xét đến tương quan về số lượng giữa MNH chênh và không chênh trên cùng một phim thì 25,2% trường hợp TRÐT có số MNH chênh nhiều hơn số MNH không chênh trong khi tỉ lệ này ở TRTN là 14,8%, khác biệt này có ý nghĩa thống kê(p< 0,01). Tỉ lệ các trường hợp có số MNH chênh bằng hay nhỏ hơn số MNH không chênh trên cùng một phim giữa hai nhóm TRÐT và TRTN chưa có khác biệt có ý nghĩa (p> 0,05).

6,3% trường hợp TRÐT có chướng hơi ruột non nhưng không có MNH trên phim bụng và 1,7% trường hợp TRÐT hình ảnh XQ không có gì bất thường. Các tỉ lệ này tương ứng trong TRTN là 20,4% và 13,0%. Như vậy, có 8,0% trường hợp TRÐT hoàn toàn không có MNH trên phim bụng trong khi ở TRTN có đến 33,4% trường hợp không có MNH, khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,001).

Có 120/346 trường hợp (34,7%) TRCH có hình ảnh chuỗi hạt, trong đó ở TRÐT có 87/238 trường hợp (36,5%) và ở TRTN có 33/108 trường hợp (30,5%), khác biệt về tỉ lệ có hình ảnh chuỗi hạt giữa TRÐT và TRTN chưa có ý nghĩa thống kê (p> 0,05). Trong số các trường hợp có hình ảnh chuỗi hạt, 82/120 trường hợp (68,3%) hình ảnh này xuất hiện sau 24 giờ tính từ lúc khởi bệnh. Tuy nhiên, có 42,4% hình ảnh chuỗi hạt của TRTN xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu trong khi chỉ có 27,6% hình ảnh chuỗi hạt của TRÐT xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu, khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,001).

Trong 100 trường hợp bụng cấp ngoại khoa không tắc ruột, XQBKSS cho thấy hình ảnh MNH nói chung ở 32 trường hợp (32,0%), hình ảnh MNH chênh ở 18 trường hợp(18,0%) và hình ảnh chuỗi hạt ở 3 trường hợp (3,0%) (Bảng 3). Sự khác biệt về tần suất hình ảnh MNH nói chung, hình MNH chênh và hình chuỗi hạt trong nhóm tắc ruột và không tắc ruột có ý nghĩa thống kê(p< 0,001).

Bảng 3: Hình ảnh X quang ở 100 trường hợp đau bụng cấp không tắc ruột.

Hình ảnh

Số ca

MNH chênh

MNH không chênh

Có cả MNH chênh và không chênh

Chuỗi hạt

Hơi tự do dưới hoành

Chướng hơi ruột non, có MNH nhỏ (< 2,5cm)

Chướng hơi ruột non ít, không MNH

Còn hơi và phân trong đại tràng

5

14

13

3

20

15

46

85

Như vậy, trong chẩn đoán tắc ruột non cơ học, hình ảnh MNH trên XQBKSS có độ nhạy 84,1%, độ đặc hiệu 68,0%, độ chính xác 80,5%, giá trị tiên đoán dương tính 90,1% và giá trị tiên đoán âm tính 55,3%. Hình ảnh chuỗi hạt có độ nhạy 34,7%, độ đặc hiệu 97,0%, độ chính xác 48,6%, giá trị tiên đoán dương tính 97,6% và giá trị tiên đoán âm tính 30,0%.