GIÁ TRỊ CỦA HÌNH ẢNH MỰC NƯỚC-HƠI VÀ HÌNH ẢNH CHUỖI HẠT TRÊN PHIM BỤNG TRONG CHẨN ÐOÁN TẮC RUỘT NON CƠ HỌC

Nguyễn Văn Hải *

TÓM TẮT

Tác giả hồi cứu hình ảnh X quang bụng không sửa soạn của 346 trường hợp tắc ruột non cơ học trong 9 năm (1992-2000) để xác định giá trị chẩn đoán của hình ảnh mực nước-hơi (MNH) và hình ảnh chuỗi hạt. Hình MNH có ở 84,4% trường hợp, MNH chênh có ở 72,5% trường hợp, hình chuỗi hạt có ở 34,7% trường hợp. So sánh với hình ảnh XQ ở 100 trường hợp bụng cấp ngoại khoa không tắc ruột, tác giả kết luận rằng: hình ảnh MNH có độ nhạy không cao, độ đặc hiệu thấp; hình ảnh chuỗi hạt có độ nhạy thấp nhưng độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán tắc ruột non cơ học.

SUMMARY

THE VALUE OF AIR-FLUID LEVELS AND STRING OF PEARLS SIGN ON PLAIN ABDOMINAL RADIOGRAPHS IN DIAGNOSIS OF SMALL BOWEL OBSTRUCTION

Nguyen Van Hai * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 4 - 2001: 214 - 219

To determine the value of air-fluid levels and string of pearls sign on plain abdominal radiographs in diagnosis of small bowel obstruction, the author reviewed radiographic findings of 346 cases of small bowel obstruction during 9 years (1999-2000). Air-fluid levels (AFLs) present in 84,1% of cases. Air-fluid levels at different heights in the same loop present in 72,5% of cases. The string of pearls sign present in 34,7% of cases. By comparison with radiographic findings in 100 cases of acute abdomen without intestinal obstruction, the author concluded that: AFLs has non-high sensitivity and low specificity while the string of pearls sign has low sensitivity but high specificity in diagnosis of small bowel obstruction.

MỞ ÐẦU

Chẩn đoán tắc ruột cơ học (TRCH) xưa nay thường dựa vào triệu chứng lâm sàng và rồi được xác định bằng X quang bụng không sửa soạn (XQBKSS). Theo nhiều tác giả trong và ngoài nước, XQBKSS là phương pháp chẩn đoán tắc ruột chủ yếu, không thể thiếu được vì nó cung cấp những bằng chứng khách quan để xác định có tắc hay không, vị trí tắc, mức độ tắc, nguyên nhân tắc cũng như giúp đánh giá tiến triển của tắc ruột. Trên phim bụng đứng ở bệnh nhân nghi ngờ bị TRCH, hình ảnh mực nước-hơi (MNH) thường là dấu hiệu chính để chẩn đoán, thậm chí nhiều khi được xem là đặc hiệu. Hình ảnh chuỗi hạt, dù được nhiều tác giả nước ngoài nhấn mạnh, vẫn còn ít được Y văn trong nước chú ý. Mục đích của nghiên cứu này là để xác định lại giá trị của hai hình ảnh nói trên trong chẩn đoán tắc ruột non cơ học dựa trên XQBKSS.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Hồi cứu trong 9 năm (1992-2000) tại khoa Ngoại, bệnh viện Nhân dân Gia định. Tiêu chuẩn chọn bệnh là tất cả những trường hợp (trường hợp) tắc ruột non có được chụp XQBKSS và được xác chẩn bằng phẫu thuật. Ðể chắc chắn chẩn đoán, chúng tôi loại trừ những trường hợp không mổ và để đọc phim được chính xác, chúng tôi loại trừ những trường hợp mà phim bụng không đạt yêu cầu về chất lượng (kích cỡ, độ nét...).

Tất cả những trường hợp bụng cấp ngoại khoa nhưng không có TRCH, đến viện trong năm 2000, mà trong quá trình chẩn đoán có được cho chụp XQBKSS tư thế đứng được chọn để làm nhóm đối chứng.

Số liệu được thống kê và kiểm định bằng phép kiểm chi bình phương với khác biệt gọi là có ý nghĩa khi p< 0,01 hoặc p< 0,001.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Có tất cả 346 trường hợp tắc ruột non cơ học thỏa yêu cầu nghiên cứu. Loại tắc và nguyên nhân tắc được thống kê trên Bảng 1. Theo đó, tắc ruột non đơn thuần (TRÐT) chiếm 238/346 (68,8%) trường hợp, tắc ruột non thắt nghẹt (TRTN) chiếm 108/346 (31,2%) trường hợp. Trong TRÐT, 81,5% nguyên nhân là dính và dây dính. Trong TRTN, xoắn ruột non và tắc ruột do dây thắt chiếm 78,7%

Bảng 1: Loại tắc và nguyên nhân tắc

Loại tắc Nguyên nhân tắc

Số ca

Tắc ruột đơn thuần

- dính

- dây dính

- bã thức ăn

- lao ruột

- u ruột non

- viêm dày, hẹp

- búi giun

- ung thư di căn

238

143 (60,1%)

51 (21,4%)

24 (10,1%)

13 (5,5%)

3 (1,3%)

2 (0,8%)

1 (0,4%)

1 (0,4%)

Tắc ruột thắt nghẹt

- xoắn ruột non

- dây thắt

- lồng ruột

- thoát vị nội

- thoát vị bịt

- thoát vị lưng

108

50 (46,3%)

35 (32,4%)

11 (10,2%)

7 (6,5%)

4 (3,7%)

1 (0,9%)

Trong 100 trường hợp đau bụng cấp mà không TRCH, có đủ loại nguyên nhân thường gặp trong cấp cứu. Nhóm chứng đa dạng về nguyên nhân này phản ánh đúng thực tế mà bác sĩ trực cấp cứu hay gặp.

Tổng cộng có 291/346 (84,1%) trường hợp TRCH có MNH trên phim bụng đứng (Bảng 2), trong đó 219/238 (92,0%) trường hợp TRÐT có MNH trong khi chỉ có 72/108 (66,6%) trường hợp TRTN có MNH, khác biệt này giữa hai loại tắc ruột có ý nghĩa thống kê (p< 0,001).