XUẤT ÐỘ
VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ UNG THƯ
TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM
Nguyễn Mạnh Quốc*
TÓM TẮT
Trong năm 1995 - 1996, chúng tôi đã bước đầu thực hiện việc ghi nhận ung thư quần thể tại các tỉnh phía Nam (không kể đến TP. Hồ Chí Minh), với 2.950 ca ung thư mới ở nam giới (39,8%) và 4.458 ca ở nữ giới (60,2%). Các số liệu được thu thập từ 26 Trung tâm, bệnh viện chuyên khoa tại TP. Hồ Chí Minh có tiếp nhận và điều trị ung thư tại các tỉnh phía Nam.
Ở nam giới, ung thư gan là loại ung thư gặp nhiều nhất (ASCAR = 17,67), theo sau là ung thư phổi (13.44), ung thư vòm hầu (6,82), ung thư da (5,93) và ung thư dạ dày (5,02).
Ở nữ giới, ung thư cổ tử cung đứng hàng đầu (36,36), hàng thứ nhì là ung thư vú (9,65), theo sau là ung thư da (5,77), ung thư buồng trứng (4,97) và ung thư phổi (3,65).
So sánh với số liệu tại TP. Hồ Chí Minh và Hà nội, sự vượt trội của ung thư cổ tử cung ở nữ giới không gây ngạc nhiên. Ung thư môi ở nữ giới, ung thư hốc miệng ở chung hai giới có tần suất cao cho thấy các đặc trưng dịch tễ học tại các tỉnh phía Nam.
INCIDENCE RATES AND RISK FACTORS IN SOUTH VIETNAM
The results from the population-based cancer registry for the Southern Viet Nam (excluding Ho Chi Minh City) in 1995 - 1996 represent the first information on cancer pattern. A total of 2,950 cancer cases in males (39.8%) and 4,458 in females (60.2%) were registered. Data were collected from 26 hospitals involving in cancer treatment and care in Southern Viet Nam.
The principal cancer of men was liver cancer (ASCAR = 17.67) followed by lung cancer (13.44), nasopharynx cancer (6.82), skin cancer (5.93) and stomach cancer (5.02).
In women, cervix cancer was dominant malignancy (ASCAR = 36.36) following breast cancer (9.65), skin cancer (5.77), ovary cancer (4.97) and lung cancer (3.65).
In comparison with data from Ho Chi Minh City and Hanoi, the predominance of cervix cancer is not surprising. The lip cancer in women and oral cancer in both sexes are very common representing the particular cancer pattern in the Southern Viet Nam.
Từ nhiều năm nay, bệnh lý nhiễm trùng và chủ yếu nhiễm ký sinh trùng đứng hàng đầu trong bảng danh sách bệnh lý tại các nước đang phát triển như Việt Nam. Nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước đang phát triển là các bệnh lý nhiễm trùng, bệnh sản khoa và bệnh lý sơ sinh. Tuy nhiên, trong khoảng hai mươi năm gần đây, bệnh tim mạch và ung thư lại là những nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước này. Ngày nay, bệnh ung thư được nhắc đến ngày càng nhiều tại các nước này, đang là một vấn đề sức khỏe quan trọng và trong tương lai rất gần (đầu thế kỷ 21) chắc sẽ là một gánh nặng thật sự cho đất nước (Nguyễn Chấn Hùng, 1997).
Việt Nam là một nước có mật độ dân số đứng hàng thứ nhì trong các nước Ðông Nam Á (70 triệu dân, theo thống kê dân số năm 1993), đã trải qua ba mươi năm chiến tranh, cho đến 1975, là một trong những nước đang phát triển có nền kinh tế nghèo nhất trên thế giới. Tuy vậy, vài chỉ số về tình trạng xã hội như tỉ lệ mù chữ trong dân số, tử suất ở trẻ em và độ tuổi trung bình vẫn cao hơn một số nước đang phát triển có cùng chỉ số kinh tế (World Bank, 1997).
Năm 1985, Trung Tâm Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập nhằm tổ chức tốt hơn hệ thống phòng bệnh, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư. Trung Tâm Ung Bướu hiện chủ yếu tiếp nhận phần lớn bệnh nhân ung thư với một dân số khoảng 25 triệu cư dân của miền Nam Việt Nam trong đó có khoảng 4,5 triệu cư ngụ tại TP. Hồ Chí Minh. Các thống kê của chúng tôi phản ánh phần nào thực tế và trong chừng mực nào đó, có ý nghĩa thống kê.
Chúng tôi có lợi điểm là được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế tại Lyon hỗ trợ từ năm 1990 cho việc thực hiện ghi nhận ung thư tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng những phương pháp thống kê hiện đại và đã bước đầu tiến hành ghi nhận ung thư quần thể vào giữa năm 1993.
Tuy vậy, chúng tôi lưu ý có những hạn chế sau đây ảnh hưởng đến kết quả ghi nhận ung thư :
*Tại những vùng xa thành phố, các cơ quan y tế chưa được tổ chức tốt để phát hiện sớm bệnh ung thư, do thiếu chuyên viên hoặc chưa có sự quan tâm đúng mức của lãnh đạẩo y tế địa phương.
* Mặt khác, Trung Tâm Ung Bướu không phải là đơn vị y tế duy nhất tiếp nhận tất cả bệnh nhân ung thư của miền Nam Việt Nam và phải kể đến một số lượng bệnh nhân sống quá xa Thành phố Hồ Chí Minh, không phương tiện đi lại và thiếu khả năng kinh tế để có thể đến điều trị tại Trung Tâm.
Chính vì theś, việc ghi nhận ung thư của chỉ một Trung Tâm Ung Bướu không cho phép chúng tôi tính được xuất độ trên 100.000 dân số cho các tỉnh phía Nam.
Trong bài này, chúng tôi trình bày kết quả ghi nhận ung thư tổng quát và phân tích vài khía cạnh nổi bật của dịch tễ học ung thư tại các tỉnh phía Nam (không kể đến TP. Hồ Chí Minh) trong năm 1995-1996 với 7.408 ca ung thư mới xuất hiện. Các số liệu được so sánh với các số liệu của một số ghi nhận ung thư trong nước (chủ yếu tại TP. Hồ Chí Minh(1996) và tại Hà nội (1993)) và các số liệu của các nước vùng Ðông Nam Á.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Năm 1990, ghi nhận ung thư TP. Hồ Chí Minh được thành lập, trụ sở đặt tại Trung Tâm Ung Bướu, chủ yếu dựa trên nguồn số liệu của Trung Tâm Ung Bướu là một trung tâm chuyên khoa ung thư tiếp nhận chủ yếu bệnh nhân ung thư của miền Nam Việt Nam.
Tháng 6 năm 1993, dựa vào số liệu của Trung tâm Lao và Bệnh Phổi Phạm Ngọc Thạch, Trung tâm TaiốMũiốHọng, bệnh viện Bình Dân, Bộ Môn Giải phẫu bệnh Ðại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Trung tâm Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh, bước đầu tiến hành ghi nhận ung thư quần thể. Ðến năm 1996 thì việc ghi nhận ung thư được tiến hành rộng rãi trên toàn TP. Hồ Chí Minh (dựa trên số liệu của 26 đơn vị y tế trên địa bàn thành phố. Phạm vi hoạt động của ghi nhận ung thư quần thể là các tỉnh phía Nam (Ðông và Tây Nam bộ, không kể TP. Hồ Chí Minh), bao gồm 15 tỉnh với khoảng 20 triệu dân.
Cách thức ghi nhận là ghi nhận chủ động (nhân viên trong nhóm ghi nhận ung thư chủ động đến các bệnh viện để khai thác dữ liệu) kết hợp với ghi nhận thụ động (các trung tâm, bệnh viện bạn hoàn tất chi tiết phiếu mẫu ghi nhận ung thư do Trung Tâm Ung Bướu gởi sang).
Nguồn thông tin chủ yếu là thống kê y vụ, thống kê bệnh nhân nội trú, ngoại trú, sổ sách giải phẫu bệnh và sổ biên bản tử vong (nếu có) (ví dụ như dựa trên sổ giải phẫu bệnh của Bộ Môn Giải Phẫu bệnh của trường Ðại học Y Dược). Hiện nay vẫn chưa thực hiện được sổ tử vong ở nước ta. Ðiều này cũng là một nguyên nhân làm chúng ta không đánh giá hết được tình hình ung thư ở TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh phía Nam cũng như cả nước.
Các thông tin ghi nhận được mã hóa theo "Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật" (ICD-O), ấn bản năm 1976, với chữ số cuối cùng của mã mô học là /3, bao gồm cả những ca ung thư có chẩn đoán chỉ dựa trên lâm sàng. Ghi nhận ung thư sử dụng phần mềm vi tính CANREG (D. M. Parkin, S. Olivier, 1992) để nhập và xử lý số liệu. Thông tin ghi nhận sau khi mã hóa sẽ được xử lý tuân theo các bước trong "Ung thư: Các nguyên tắc và phương pháp xử lý" (O. M. Jensen; D. M. Parkin, 1991).
Chất lượng dữ liệu tuân theo phương pháp kiểm tra tính toàn vẹn và chất lượng của Golberg (1980). Các ca trùng lắp (trên cùng một bệnh nhân với lý do nhiều bệnh nhân có thể có tên, họ, giới tính, mã vị trí, mã mô học... trùng nhau) được xử lý theo chương trình "Duplicate Programme" (Nguyễn Mạnh Quốc, 1995).
Xuất độ thô (Crude rate = CR), xuất độ chuẩn tuổi (Age-Standardized Rate = ASR) trên 100.000 dân số (Breslow, Day, 1987), tần suất chuẩn tuổi (Age-Standardised Cancer Ratio = ASCAR) được tính theo phương pháp chuẩn trực tiếp (Parkin, 1991).