Trần Thiện Trung*
Theo Bretagne(1), mục tiêu của điều trị chảy máu do loét DD-TT sau cầm máu qua nội soi là chữa lành ổ loét và ngăn ngừa các biến chứng mới: chảy máu tái phát và thủng. Ðiều trị bằng thuốc kháng tiết với nhóm Anti-H2 hoặc nhóm ức chế bơm proton mang lại kết quả lành sẹo tốt ngoại trừ những trường hợp dùng NSAIDs kéo dài.
Theo Chung(4), vai trò của thuốc kháng tiết dùng đường tĩnh mạch còn có những ý kiến khác nhau. Những nghiên cứu về pH in vivo cho thấy rằng điều trị với nhóm ức chế bơm proton làm giảm độ toan dịch vị nhiều và tốt hơn so với nhóm Anti-H2.
Nghiên cứu của Cardi(3) trên 45 trường hợp chảy máu do loét DD-TT cho thấy điều trị với omeprazole - tĩnh mạch có tác dụng cầm máu tốt hơn so với ranitidin (95,2% so với 70,8% - P < 0,05). Chỉ định mổ là 3 trường hợp do chảy máu ở mặt sau tá tràng (4,8% (1/21) ở nhóm điều trị với omeprazole và 8,3% (2/24) ở nhóm ranitidin).
Khuroo(9) nghiên cứu so sánh 2 nhóm điều trị với omeprazole và với giả dược, kết quả được giới thiệu ở bảng 4.
Bảng 4: So sánh điều trị giữa nhóm omeprazole với nhóm giả dược (Khuroo(9)).
|
Kết quả |
Ðiều trị với omeprazole n=110 |
Giả dược n=110 |
|
Chảy máu tái phát * |
12 (10,9%) |
40 (36,4%) |
|
Tỷ lệ phải mổ * |
8 (7,3%) |
26 (23,6%) |
|
Tử vong |
2 (1,8%) |
6 (5,5%) |
|
Truyền máu* |
32 (29,1%) |
78 (70,9%) |
* Sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa với P < 0,001.
Cũng theo Khuroo, chảy máu tái phát có liên quan đến những thương tổn qua nội soi (Bảng 5) và chỉ định điều trị phẫu thuật (Bảng 6).
Bảng 5: Chảy máu tái phát và thương tổn nội soi (theo Khuroo(9)).
|
Kết quả |
Chảy máu tái phát |
|
|
Omeprazole (n=12) |
Giả dược (n=40) |
|
|
Chảy phun thành tia |
8/11 (72,7%) |
14/15 (93,3%) |
|
Lộ mạch máu |
2/17 (11,8%) |
10/18 (55,6%) |
|
Chảy rỉ rả |
2/18 (11,1%) |
3/16 (18,8%) |
|
Cục máu đông bám dính * |
0/64 (-) |
13/61 (21,3%) |
Chảy máu tái phát ở cả 2 nhóm gặp nhiều nhất ở thương tổn chảy thành tia và thấp nhất ở nhóm điều trị với omeprazole có cục máu đông bám dính * (P < 0,001).
Bảng 6: Chỉ định điều trị phẫu thuật và thương tổn nội soi (theo Khuroo(9)).
|
Thương
tổn nội soi |
Chỉ
định điều trị phẫu thuật |
|
|
Omeprazole
(n=8) |
Giả
dược (n=26) |
|
|
Chảy phun thành tia |
6/11 (54,5%) |
11/15 (73,3%) |
|
Lộ mạch máu |
1/17 (5,9%) |
8/18 (44,4%) |
|
Chảy rỉ rả |
1/18 (5,6%) |
1/16 (6,3%) |
|
Cục máu đông bám dính |
0/64 (-) |
6/61 (9,8%) |
Chỉ định phẫu thuật gặp nhiều ở thương tổn chảy máu phun thành tia.
Tác giả kết luận rằng trên những bệnh nhân đang chảy máu do loét DD-TT và những trường hợp có dấu hiệu chảy máu mới xảy ra, điều trị với omeprazole làm giảm có ý nghĩa chảy máu tái phát cũng như chỉ định điều trị ngoại khoa.
Theo Lau(11), trên 240 trường hợp sau khi được điều trị cầm máu qua nội soi, được chia làm 2 nhóm: 120 điều trị với omeprazole (80mg IV, tiếp theo là 8mg/giờ trong 72 giờ và sau truyền bằng đường tĩnh mạch, tiếp tục uống 20mg/ngày x 8 tuần) và 120 với giả dược. Theo dõi sau 30 ngày, tỷ lệ chảy máu tái phát sớm ở nhóm điều trị với omeprazole là 6,7% (8/120) so với 22,5% (27/120) ở nhóm giả dược (P < 0,001). Ðối với các trường hợp chảy máu tái phát, tác giả đề nghị điều trị lại qua nội soi lần 2, tỷ lệ thành công là 6/8 trường hợp ở nhóm omeprazole và 23/27 ở nhóm giả dược. Tác giả kết luận là sau điều trị cầm máu qua nội soi, điều trị tiếp theo bằng omeprazole liều cao đã làm giảm nguy cơ chảy máu tái phát.
Tóm lại: Ðiều trị với thuốc kháng tiết đã làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ chảy máu tái phát sớm từ 22,5 - 36,4% xuống còn 6,7 - 10,9% (P < 0,001)(9,11). Ðiều trị với thuốc ức chế bơm proton (omeprazole) có tác dụng cầm máu hữu hiệu hơn so với nhóm Anti-H2 (Ranitidin) (P < 0,05)(3) và là thuốc hiện nay nên được chọn lựa trong điều trị chảy máu do loét DD-TT(4). Tuy nhiên chỉ định điều trị ngoại khoa vẫn còn cần thiết cho khoảng 4,8-8,3% trường hợp sau điều trị với thuốc kháng tiết đơn thuần(3,9).