Nguyễn Chấn Hùng*, Nguyễn Bá Ðức*, Phó Ðức Mẫn*, Nguyễn Quốc Trực*
Bệnh ung thư đang là vấn đề sức khoẻ hết sức quan trọng trên toàn thế giới. Bước vào thế kỷ 21, bệnh này chắc sẽ là gánh nặng cho cả nước ta.Tổ chức Y tế Thế giới WHO tích cực đề xuất các chương trình quốc gia phòng chống ung thư (PCUT) nhằm giải quyết gánh nặng ung thư. Một chiến lược quốc gia mới thật sự là giải pháp rốt ráo cho vấn đề ung thư. Một chiến lược PCUT cho cả nước đang xây dựng. Một màng lưới PCUT khắp nước đang được hình thành. Một khoa Ung bướu (kUB) trong một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, không chỉ có nhiệm vụ trong điều trị ung thư mà hứa hẹn là đơn vị chủ yếu của màng lưới PCUT cả nước.
Theo WHO, các nuớc công nghiệp Tây Âu có xuất độ ung thư thay đổi trong khoảng 350 - 400/100.000 dân. Ở các nước đang phát triển xuất độ ước tính vào khoảng 170 - 200/100.000 dân.
Ở nước ta, kết quả ghi nhận quần thể tại Hà Nội (1994) và TPHCM (1996) cho thấy xuất độ chung cả nước vào khoảng 180-200/100.000 dân.
Như vậy dân số một tỉnh vào khoảng 1.5-2.0 triệu người, số người bệnh ung thư mới chẩn đoán hàng năm ước tính vào khoảng 4000. Ðây là một gánh nặng sức khoẻ. Ngành y tế và toàn xã hội không chỉ chăm sóc cho 4000 người hàng năm mà thôi, mà thực tế số lượng bệnh nhân ung thư ngày một tích lủy thêm, và bệnh tình diễn biến theo nhiều mức độ từ khả quan (khỏi bệnh, ổn định) đến phức tạp nhất.
Khi đuợc chẩn đoán, người bệnh dễ theo được điều trị chuyên khoa. Nhiều lợi ích về điều trị chăm sóc theo dõi cho người bệnh và thân nhân. Nhiều thuận lợi kinh tế cho người bệnh là gia đình họ hàng. Thuận lợi cho thầy thuốc: theo dõi kết quả điều trị và sống còn.
Từ trước đến nay, người bệnh ung thư được điều trị tốt bằng phẫu thuật và chỉ bằng phẫu thuật tại các chuyên khoa hệ ngoại (như là ngoại tổng quát, tai mũi họng, phụ sản, chấn thương chỉnh hình v.v.). Ðiều này nên được tiếp tục để đóng góp tích cực cho người bệnh ung thư trong hoàn cảnh thực tế của bệnh viện đa khoa tỉnh.
Một kUB được xây dựng hợp lý (trang thiết bị chuyên khoa cần thiết, thuốc đặc trị cơ bản ., thầy thuốc chuyên khoa có khả năng, điều dưỡng đuợc đào tạo) chắc chắn sẽ cùng các khoa khác làm tốt hơn nữa công tác điều trị và chăm sóc các bệnh nhân ung thư. Thực vậy các thầy thuốc có tham gia điều trị bệnh ung thư và các thầy thuốc tại kUB sẽ cùng nhau chia xẻ cái nhìn ung bướu học: lưu tâm người bệnh ung thư không chỉ ở thời điểm tiếp cận ban đầu mà còn phải thấy được suốt diễn tiến của căn bệnh để có xử trí thật thích hợp. Từ đó phải xuyên suốt và kiên trì quan điểm điều trị toàn diện bệnh ung thư bằng cách vận dụng cách xử lý đa mô thức biết cân nhắc và phối hợp đúng mức ba phương pháp điều trị chủ yếu phẫu ± xạ±hóa trị.
Trong công tác tổ chức và xây dựng kUB nên nhớ khoa là một đơn vị điều trị của bệnh viện với tất cả các thuận lợi như là: Các phương tiện chẩn đoán: cắt lớp điện toán, các xét nghiệm sinh họcvà huyết học, giải phẫu bệnh. Ðội ngủ thầy thuốc có nhiều kinh nghiệm điều trị ở các chuyên khoa. Ðội ngũ điều dưỡng có quá trình chăm sóc bệnh nhân ung thư.
Khoa Ung bướu (oncology department) là tên được dùng theo quy định của Bộ Y Tế. Hiện nay các tên gọi khác cũng được dùng: khoa K, khoa khối u, khoa u bướu v.v...
Từ gốc oncology đã thay cho cancerology với ý nghĩa rộng rãi hơn là ngành khảo sát về tumour ( gồm cả u, bướu lành và ác, nhưng chủ yếu là khối u, bướu ác tính)
Khoa nên ở trong khuôn viên của bệnh viện vì đây là khoa cần liên hệ rất nhiều khoa phòng trong bệnh viện.
Số giường bao nhiêu là tùy tình hình cụ thể của bệnh viện. Cũng nên cân nhắc trước cho ù phù hợp với đà phát triển vì phạm vi hoạt động có thể khá rộng rải (cần cho phẫu trị, xạ trị và phẫu trị) và phức tạp (chăm sóc nâng đở giai đoạn cuối và chống đau).
Quá trình xây dựng các kUB ở các bệnh viện đa khoa Khánh Hòa, Cần Thơ và Tiền Giang cho thấy số giường nội trú có thể trong khoảng 50-70 giường trong một bệnh viện đa khoa tỉnh với 500 - 700 giường.
Phẫu trị ung thư đòi hỏi trang thiết bị ngoại khoa tốt nhưng thuận lợi lớn là khoa có hoạt động phẫu thuật chung với bệnh viện. Hoá trị đòi hỏi khả năng có thuốc đặc trị và cách cho thuốc với các trang thiết bị phù hợp.
Xạ trị với trang thiết bị cần thiết và phù hợp mới là vấn đề đáng lưu ý. Một kUB bướu có thể được thành lập mà chưa trang bị được máy xạ trị. Nhưng một kUB có máy xạ trị thì mới phát huy đúng mức vai trò chuyên khoa và hỗ trợ các chuyên khoa bạn.
Nên trang bị máy xạ trị cở nào? Máy xạ trị cobalt 60 hiện nay có thể phù hợp với tuyến tỉnh, máy gia tốc nên được lưu tâm trong tương lai. Số lượng máy cobalt 60 là một hoặc hay là tùy theo khả năng đầu tư, hai máy có khả năng thuận lợi hơn về đầu tư, bão trì vận hành và dĩ nhiên điều trị nhiều người bệnh hơn. Nếu có điều kiện thì trang thiết bị đủ bộ xạ trị: máy xạ trị ngoài cobalt 60, máy xạ trị trong suất liều trung bình và máy mô phỏng. Phải chuẩn bị chu đáo cho kế hoạch trang bị xạ trị, đừng nghỉ đơn giản là có một máy cobalt là có thể tiến hành xạ trị tốt. Phải đầu tư cho vấn đề an toàn xạ, kỹ sư bão trì, kỹ sư vật lý phóng xạ, đội ngủ vận hành máy và dĩ nhiên đội ngũ thấy thuốc xạ trị.
Vấn đề săn sóc người bệnh ung thư có tầm quan trọng đặc biệt, do đó vai trò điều dưỡng rất lớn. Xin đặt trọng tâm bàn về đội ngủ bác sĩ cho kUB. Số lượng thầy thuốc cho khoa bao nhiêu là đủ còn tùy theo yêu cầu phát triển. Ðội ngũ thầy thuốc phải gồm các bác sĩ phẫu trị, xạ trị và hóa trị, tất cả đều phải được trang bị kiến thức cơ bản về ung bướu học. Trong hoàn cảnh tuyến tỉnh hiện nay, thiết nghỉ có thể tuyển bác sĩ cho kUB từ các bác sĩ ngoại khoa ( thường có cơ hội tiếp xúc nhiều với bệnh nhân ung thư ) từ đó đào tạo tiếp về phẫu - hóa trị. Bác sĩ xạ trị cần được đào tạo chuyên sâu tại các trung tâm PCUT có xạ trị khá mạnh trong nước.
Một vấn đề đặt ra gây lúng túng cho lãnh đạo kUB và các khoa khác trong bệnh viện: đối tượng bệnh nhân ung thư. Từ trước đến nay khoa phụ sản nhận người bệnh ung thư cổ tử cung, buồng trứng; khoa ngoại mổ ung thư bao tử, ruột; khoa TMH cũng lo cho nhiều loại ung thư ở đầu và cổ. Có phải giao tất cả người bệnh ung thư cho kUB hoặc ngược lại thì kUB chẳng có bệnh nhân nào ngoại trừ bệnh nhân rất nặng.
Thật ra điều trị ung thư ( và cả phòng chống ung thư nữa) là trách nhiệm của mọi thầy thuốc, điều dưỡng. Vấn đề chăm sóc người bệnh ung thư không nên đuợc coi là độc quyền và cũng không chỉ thuộc trách nhiệm của kUB. Cần phải phối hợp hài hòa các hoạt động giữa các khoa và kUB nhằm đạt hiệu quả tốt nhất cho người bệnh. Không tranh giành mà cũng đừng đùn đẩy.
Ban lãnh đạo bệnh viện cần chủ trì để xây dựng hợp đồng tác chiến giữa kUB và các khoa bạn dựa vào hoàn cảnh cụ thể, tay nghề. Ðặc biệt lưu tâm đến các loại bệnh cần điều trị phẫu thuật (mẫu số chung về phạm vi hoạt động ) nếu không khéo thì có tranh giành và cũng lưu ý các bệnh nhân ở giai đoạn bệnh tiến xa, có thể xảy ra đùn đẩy.
KUB phải hợp tác chặt chẽ với các khoa, đặc biệt là các khoa ngoại, khoa phụ sản, khoa TMH và RHM vì các bệnh nhân thường gặp ở hệ tiêu hóa, hệ sinh dục và vùng đầu và cổ. Tôn trọng kinh nghiệm và tay nghề của chuyên khoa bạn chẳng hạn như ung thư bao tử ruột chủ yếu điều trị phẫu thuật (khoa ngoại), ung thư thanh quản trong tay bác sĩ TMH, ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm được bác sĩ phụ sản điều trị phẫu thuật tốt.kUB lưu tâm hợp tác điều trị nhiều hơn các loại cần điều trị đa mô thức: ung thư cổ tử cung, ung thư vú, gan, phổi v.v. Về hóa trị và xạ trị: phối hợp tốt để kiên trì nguyên tắc điều trị toàn diện đa mô thức.
là một yêu cầu sinh tử cho hoạt động điều trị ung thư. Bác sĩ GPB nên được tạo điều kiện để có quan điểm lâm sàng - GPB. Khoa GPB cần được bệnh viện đầu tư các kỹ thuật ngang tầm hoạt động lâm sàng: FNA, cắt lạnh v.v.
Ghi nhận ung thư toàn bệnh viện kUB phối hợp với các khoa và phòng KHTH để thực hiện ghi nhận các ca ung thư toàn bệnh viện, từ đó có được cái nhìn bao quát về tình hình ung thư của tỉnh, trong khi chờ đợi xây dựng việc ghi nhận ung thư quần thể trên địa bàn tỉnh. Tổ chức tốt dể kUB là cơ sở thực tập tốt cho sinh viên y khoa về bệnh ung bướu từ đó trang bị kiến thức cơ bản phòng chống ung thư cho các thầy thuốc tương lai trên địa bàn tỉnh.
Theo dõi các bệnh nhân ung thư đã điều trị nhờ việc phối hợp với các cơ sở y tế quận huyện. Ðây là ưu thế của kUB ở địa bàn tỉnh so với Trung Tâm PCUT lớn hơn.
Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước, Bộ Y Tế, công tác phòng chống ung thư đã có nhiều tiến bộ.
Ngày 5/7/1999 sau khi được chính phủ cho phép, Bộ Y Tế đã phê duyệt đầu tư chương trình phát triển màng lưới PCUT tại Việt nam giai đoạn 1999-2000.
Với quyết định của Bộ Y Tế cho thành lập khoa Ung bướu trong các bệnh viện đa khoa, chương trình phát triển màng lưới PCUT trên cả nước đã có được bước chuyển động quyết định. kUB không chỉ có vai trò điều trị như vừa trình bày dù rằng vai trò này cũng đã rất nặng nề, mà nên được xây dựng để thành hạt nhân cho chương trình PCUT của cả tỉnh, từ đó góp phần mình cho chiến lược PCUT của cả nước.
Theo WHO giải quyết gánh nặng ung thư phải có chiến lược PCUT. Một chiến lược như vậy là sự phối hợp hài hòa, các hoạt động bao gồm viếc phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị, săn sóc nâng đỡ tạm với vốn liếng nhân tài-vật lực có sẵn trong tay.
Như vậy trên địa bàn một tỉnh (1.5 đến 2.0 triệu dân) cần có chiến lược PCUT cho toàn tỉnh. KUB hứa hẹn là hạt nhân của đơn vị chịu trách nhiệm PCUT của tỉnh.
Một kUB phát triển vững mạnh có thể là hạt nhân để thành lập Trung tâm PCUT khu vực. Bộ Y Tế (1994) đã chỉ đạo Trung Tâm Ung Bướu Thành Phố Hồ Chí Minh hỗ trợ thành lập các kUB ở các bệnh viện đa khoa Khánh Hòa và Cần Thơ để tương lai trở thành Trung Tâm PCUT khu vực miền Trung và khu vực đồng bằng sông Cửu long.
KUB BVÐK Cần Thơ đã được thành lập năm 1999, kUB BVÐK Khánh Hòa sẵn sàng để khánh thành năm 2001.
Là đơn vị rất cần thiết trong một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, kUB cùng các khoa khác phối hợp hài hòa để điều trị và chăm sóc bệnh nhân ung thư nhằm đạt kết quả tối ưu. Không chỉ có nhiệm vụ điều trị bệnh nhân, kUB hứa hẹn nhiệm vụ chiến lược PCUT (phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị, chăm sóc nâng đỡ, giáo dục sức khoẻ, nghiên cứu khoa học) trên điạ bàn tỉnh. Như vậy kUB là cơ sở chủ yếu của mạng lưới PCUT cả nước, góp phần thực hiện chiến lược chung PCUT.
1. APCC: 11th Cancer Congress. Bangkok, Thailand, 1993: Abstract of papers.
2. APCC: 12th Asia Pacific Cancer Congress. Singapore, 1995: Abstract of papers.
3. Parkin D.M: Cancer Occurrence in developing countries IARC, Lyon, 1986.
4. WHO: National Cancer Control Programmes Policies and Managerial Guidelines, vision, Trivandrum, India, 1993.
5. WHO: Manual on the Prevention and Control of common cancers. WHO regional publications. Western Pacific series N.20 1998
6. Nguyễn Bá Ðức:. Bàn về chương trình phòng chống ung thư ở Việt nam. Tạp chí Y học thực hành - Chuyên san Ung thư học 11 - 1995.
7. Nguyễn Bá Ðức: Vai trò của các Trung tâm phòng chống ung thư. Y học Việt nam số 7 năm 1993, tập 173.
8. Nguyễn Bá Ðức và Nguyễn Chấn Hùng: Chương trình phát triển mạng lưới phòng chống ung thư tại Việt Nam 1999-2000 và 2000-2005. Tạp chí thông tin Y Dược, số đặc biệt chuyên đề ung thư (tháng 11-1999).
9. Nguyễn Chấn Hùng, Phó Ðức Mẫn, Cung Thị Tuyết Anh, Nguyễn Văn Sơn, Vũ Văn Vũ, Nguyễn Mạnh Quốc: Dịch tễ học ung thư hiện nay tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam. Y học Việt nam số 7 năm 1993, tập 173.
10. Nguyễn Chấn Hùng: Trung Tâm Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh mười năm xây dựng và trưởng thành. Tạp chí Y học thực hành - Chuyên san Ung thư học 11 - 1995.
11. Nguyễn Chấn Hùng và Nguyễn Bá Ðức: Xây dựng chiến lược phòng chống ung thư. Y học TP. Hồ Chí Minh, Trường Ðại Học Y Dược TP. HCM, số đặc biệt chuyên đề ung thư, tháng 9/1997.
12. Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Mạnh Quốc, Phó Ðức Mẫn và Vũ Văn Vũ: Kết quả ghi nhận ung thư quần thể tại TP. Hồ Chí Minh năm 1996 (kết quả bước đầu). Y học TP. Hồ Chí Minh, Trường Ðại Học Y Dược TP. HCM, số đặc biệt chuyên đề ung thư, tháng 9/1997.
13. Nguyễn Chấn Hùng và Phó Ðức Mẫn:: Xây dựng chiến lược phòng chống ung thư cho TP. Hồ Chí Minh. Y học TP. Hồ Chí Minh, Trường Ðại Học Y Dược TP. HCM, số đặc biệt chuyên đề ung thư, tháng 12/1998.
14. Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Mạnh Quốc, Phó Ðức Mẫn và Vũ Văn Vũ: Kết quả ghi nhận ung thư quần thể tại TP. Hồ Chí Minh năm 1997. Y học TP. Hồ Chí Minh, Trường Ðại Học Y Dược TP. HCM, số đặc biệt chuyên đề ung thư, tháng 12/1998.
15. Phạm Hoàng Anh, Nguyễn Thị Hạnh và Trần Hồng Tường: Ung thư Hà nội 1991-1992 Y học Việt nam số 7 năm 1993, tập 173.
16. Phạm Thụy Liên: Dự phòng và phát hiện sớm Ung thư. Tạp chí Y học thực hành - Chuyên san Ung thư học 11 - 1995.