HƯỚNG ÐẾN MỘT PHÁC ÐỒ XỬ TRÍ CẤP CỨU VẾT THƯƠNG VÙNG CỔ

Trần Quyết Tiến ·

Tóm tắt

Từ 1 - 1996 đến 7 - 1999 tại BV. Chợ Rẫy đã xử trí cấp cứu 118 trường hợp vết thương vùng cổ - gáy. Trong đó vết thương phần mềm đơn thuần: 52, 54% ; tổn thương mạch máu: 28, 81% ; tổn thương khác: 71, 19%. Trong các vết thương mạch máu, tổn thương động mạch và tĩnh mạch: 41, 18% & 58, 62%. Trong nhóm không có tổn thưông mạch máu tổn thương cơ chiếm đa số (73, 81%) và thứ hai là tổn thương khí quản (9, 52%), tuyến giáp (9, 52%). Tổn thương cột sống cổ rất hiếm nhưng là tổn thương trầm trọng. Chỉ định mổ chủ yếu dựa trên lâm sàng nhưng cận lâm sàng đóng một vai trò quan trọng: nội soi khí- phế quản, siêu âm mạch máu, chụp động mạch, CT Scan những trường hợp có tổn thương cột sống cổ cho chẩn đoán chính xác. Nói chung, điều trị ngoại khoa không phức tạp: chủ yếu khâu phục hồi cấu trúc cơ quan hoặc cầm máu. Biến chứng sau mổ (2, 54%) và tử vong (4, 24%) chỉ gặp trong nhóm những trường hợp có tổn thương mạch máu. Nguyên nhân chính của tử vong là do sốc mất máu nặng không hồi phục. Qua nghiên cứu này chúng tôi hướng đến xây dựng một phác đồ điều trị vết thương vùng cổ.

Contribute to Produce an algorithm for Penetrating Injuries of the Neck.

Tran Quyet Tien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 3 - 2001:

From 1 - 1996 to 7 - 1999 in Cho Ray Hospital 118 cases oporated because of penetrating injuries in the neck- nape. The only muscle and soft - tissue injeries were 52.54%. In the vessel group: arterial and venous injuries occupied 41.18% & 58.62%. In the group of non - vascular lesion: the fist is the lesion of muscle (73.81%) ; the second is the lesion of tracheal (9.52%) and lesion of thyroid (9.52%). The spinal lesion is rare 92.58%) but it is severe. The operative indications mainly based on the clinic signs but the paraclinic was an important factor: Tracheobronchosopy, Echo Doppler, Arteriography, CT Scan on cervical vertabrae or cervical cord injuries which gave us the exact diagnosis. Generally, the surgical treatment is not complex: the main technique is to recover the organic structure or hemostate. Complications (2.54%) and mortality (4.24%) only occurred in the vascular injury group. The main cause of death was irreversible hypovolemic shock. Basing on this study, we contribute to produce an algorithm for management of patient with penetrating of the neck.

ÐẶT VẤN ÐỀ

Vết thương vùng cổ - gáy liên quan đến nhiều cơ quan quan trọng của bệnh nhân: như cột sống, tủy sống, khí quản, thực quản và đặc biệt là các mạch máu nuôi não mà thường được quen gọi là mạch máu vùng cổ - nền cổ. Biểu hiện lâm sàng của vết thương vùng này đa dạng, chẩn đoán và xử trí có tính cấp cứu chung nhưng cũng mang tính chuyên khoa sâu. Từ 1/1996 đến 7/1999, tại BV. Chợ Rẫy đã điều trị cấp cứu cho 118 trường hợp có vết thương vùng cổ - gáy mà trong đó chủ yếu là Khoa Ngoại Tim- Mạch và Lồng ngực, và một số ở Khoa Tai - Mũi - Họng và Khoa Ngoại Trần Kinh. Chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu phân tích các trường hợp này nhằm sơ bộ đánh giá tỉ lệ những loại tổn thương khác nhau tại vùng cổ - gáy, hướng đến xây dựng một phác đồ xử trí vết thương vùng cổ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ðối tượng nghiên cứu

Những trường hợp vết thương trên toàn bộ vùng cổ và gáy được chẩn đoán và xử trí tại BV. Chợ Rẫy từ 1 - 1996 đến 7 - 1999.

Ðối tượng loại trừ

những vết thương trên toàn bộ vùng cổ và gáy đã được chẩn đoán và xử trí cấp cứu có hiệu quả tại các bệnh viện khác được chuyển đến BV. Chợ Rẫy và tại đây chỉ điều trị bảo tồn không có can thiệp gì thêm.

Số liệu

Dựa trên những hồ sơ, bệnh án được thu thập tại các khoa: Khoa ngoại Tim - Mạch và Lồng ngực, Khoa Ngoại Thần kinh, Khoa Tai - Mũi - Họng, Khoa cấp cứu, Khoa săn sóc đặc biệt, bộ phận lưu trữ hồ sơ của bệnh viện.

Phương pháp

Hồi cứu, thống kê vị trí các thương tích, tác nhân gây thương tích, sinh hiệu, triệļu chứng lâm sàng tại chỗ vết thương và những nơi khác của cơ thể. Vị trí vết thương vùng cổ được xác định theo J. M. Burch(4):

Vùng 1: nền cổ, từ bờ trên của đầu ngoài xương đòn vào trong đến sụn nhẫn trở xuống

Vùng 2: giữa cổ, từ giới hạn trên của vùng 1 đến bờ dưới xương hàm.

Vùng 3: vùng cổ cao, từ góc hàm dưới trở lên.

Cách phân chia này thích hợp trong nghiên cứu vết thương mạch máu nhưng chưa đầy đủ khi nghiên cứu các vết thương của toàn bộ vùng cổ và gáy. Do đó chúng tôi ghi nhận thêm vị trí vết thương ở đường dọc chính giữa cổ và gáy nhằm phục vụ tốt hơn mục đích của nghiên cứu này.

Chụp X quang cổ thẳng - nghiêng nhằm tìm kiếm dị vật, thay đổi đường cong sinh lý của cột sống cổ cũng như sự dày lên của vùng trước cột sống, tổn thương của các đốt sống cổ.

Chụp X quang ngực thẳng: khi có vết thương nền cổ nhằm xác định có khí hoặc dịch trong khoang màng phổi, sự giãn rộng của trung thất.

Chụp X quang động mạch hoặc siêu âm mạch máu khi nghi ngờ có tổn thương mạch máu vùng 1 hoặc 3 ở trên một bệnh nhân có sinh hiệu ổn định.

Chụp CT Scan cột sống xác định tổn thương của cột sống và tủy sống cổ.

Phương pháp điều trị

-Tổn thương mạch máu: khâu lại thành mạch bị rách hay thủng, ghép mạch tự thân, thắt mạch.

Tổn thương khí quản: khâu kín khí quản.

 -Tổn thương thực quản: khâu vết thương, nuôi ăn bằng ống sonde qua thực quản vào dạ dày.

- Xử trí vết thương phần mềm theo nguyên tắc chung.

-Tổn thương cột sống cổ hay tủy cổ: giải phóng chèn ép tủy cổ, lấy hết mảnh xương vỡ, làm sạch vết thương, cố định tốt cột sống cổ...

Từ các số liệu trên chúng tôi xác định những biểu hiện chính của những tổn thương các cơ quan vùng cổ, gáy đặc biệt là tổn thương mạch máu, khí quản, thực quản, cột sống cổ giúp cho việc đề ra chỉ định mổ chính xác, kịp thời ; so sánh kết quả nghiên cứu này với các tác giả khác trong và ngoài nước để từ đó rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Kiểm định giả thuyết thống kê bằng phép kiểm l2 với p= 0,05.


· Tiến sĩ Y khoa, Bác sĩ Khoa - Phân môn Ngoại Tim - Mạch và Lồng ngực BV. Chợ Rẫy - Khoa Y ÐHYD. Tp HCM.