GÓP PHẦN
ÐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP
QUA ÐỘ TẬP TRUNG 99mTc-PERTECHNETATE TẠI TUYẾN GIÁP
VỚI KỸ THUẬT GHI HÌNH S.P.E.C.T.
Lê Nguyễn Thùy Khanh*
TÓM TẮT
Tại Bệnh viện Ðại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi nghiên cứu và thiết lập được giá trị trung bình của độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp với kỹ thuật ghi hình S.P.E.C.T. (Single Photon Emission Computed Tomography) ở 31 người Việt Nam bình thường là 2,05 ± 1,04% (giá trị trung bình ± một độ lệch chuẩn), từ tháng 10/1999 đến tháng 02/2001, tác giả tiếp tục nghiên cứu độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở 31 bệnh nhân cường giáp, 30 bệnh nhân có bướu giáp đa nhân hay đơn nhân bình giáp và 30 bệnh nhân có bướu giáp đơn thuần. Từ đó thiết lập giới hạn trên của độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở nhóm 91 người gồm 31 người bình thường và 60 bệnh nhân có bệnh lý tuyến giáp với chức năng bình giáp (gồm 30 bệnh nhân có bướu giáp đa nhân hay đơn nhân bình giáp và 30 bệnh nhân có bướu giáp đơn thuần) là ³ 6,3% (giá trị trung bình ± hai độ lệch chuẩn), góp phần phân biệt rõ hai nhóm bình giáp và cường giáp.
SUMMARY
SINGLE PHOTON EMISSION COMPUTED TOMOGRAPHY
Le Nguyen Thuy Khanh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 3 - 2001: 167 -
At the University Medical Center in Ho Chi Minh city, the 99mTc-pertechnetate thyroid uptake ratio in 31 normal Vietnameses was computed by using S.P.E.C.T. technique (Single Photon Emission Computed Tomography), the mean value is 2.05 ± 1.04% (mean ± SD). From October, 1999 to February, 2001 we continued to study 31 Hyperthyroidism, 30 Euthyroid patients with nodule or multinodules and 30 patients with Goiter (not received any medicine or surgical therapy prior to the study) to set the upper limit of the euthyroid 99mTc-pertechnetate thyroid uptake at ³ 6.3% (mean +2SD) to help in separating Hyperthyroid from Euthyroid patients.
MỞ ÐẦU
Với hệ thống máy Gamma Camera STARCAM 300GE, detector type XR/T và phương pháp ghi hình S.P.E.C.T. (Single Photon Emission Computed Tomography) mà chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này, việc đo độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp đã giúp thu được những thông tin về hình thể và chức năng tuyến giáp rất nhanh chóng (trong vòng 20 phút). Vấn đề đặt ra ở đây là phải thiết lập được trị số độ tập trung 99mTc- pertechnetate tại tuyến giáp có chức năng bình giáp (bao gồm ở người bình thường và cả ở những bệnh nhân có bướu giáp nhân bình giáp hay bướu giáp đơn thuần) để từ đó có thể giúp phân biệt rõ ràng giữa hai nhóm bình giáp và cường giáp, góp phần trong việc chẩn đoán và theo dõi một số bệnh lý tuyến giáp.
Năm 1990, tác giả Tzen và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu và thiết lập được giới hạn trên của độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở 42 người Ðài loan bình thường và cả ở 110 bệnh nhân có bướu giáp nhân bình giáp và bướu giáp đơn thuần là ³ 6,31% (giá trị trung bình + 2 độ lệch chuẩn tức là 2,77+ 2.1,77% = 6,31%) đã giúp phân biệt rõ ràng giữa hai nhóm bình giáp và cường giáp với độ nhạy cảm là 92,9%, độ đặc hiệu là 96,1% và độ chính xác là 95,6%. (Ðộ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở bệnh nhân cường giáp là 23,00 ± 12,00% (giá trị trung bình ± một độ lệch chuẩn).
Ở Việt nam, sau khi đã thiết lập giá trị trung bình của độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở 31 người Việt nam bình thường là 2,05 ± 1,04% (giá trị trung bình ± một độ lệch chuẩn), từ tháng 10/1999 đến tháng 2/2001, tác giả đã tiếp tục nghiên cứu độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp trên 30 bệnh nhân có bướu giáp nhân bình giáp (bao gồm đa nhân và đơn nhân), 30 bệnh nhân có bướu giáp đơn thuần và 31 bệnh nhân cường giáp (bao gồm Basedow và bướu giáp đa nhân cường giáp) và đã thiết lập được giá trị của độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở người bình thường và ở bệnh nhân có bướu giáp bình giáp là 2,54 ± 1,88% (giá trị trung bình ± một độ lệch chuẩn) đồng thời cũng ghi nhận được trị số độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở bệnh nhân cường giáp là 20,41±8,42% (giá trị trung bình ± một độ lệch chuẩn), từ đó thiết lập giới hạn trên của độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp ở nhóm 91 người gồm 31 người bình thường và 60 bệnh nhân có bệnh lý tuyến giáp với chức năng bình giáp là ³ 6,3%, phân biệt rõ giữa hai nhóm bình giáp và cường giáp với độ nhạy cảm là 100%, độ đặc hiệu là 93,4% và độ chính xác là 95%, góp phần quan trọng trong việc đánh giá chức năng tuyến giáp trong các bệnh lý tuyến giáp.
ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng (đặc điểm của bướu giáp: đơn nhân, đa nhân, lan tỏa có hay không có âm thổi; có hay không có những triệu chứng nhiễm độc giáp tố như rối loạn điều hòa nhiệt, uống nhiều, tiểu nhiều, biểu hiện tim mạch...) cũng như các xét nghiệm cận lâm sàng: siêu âm tuyến giáp, định lượng nồng độ hormone tuyến giáp (TSH, FT3, FT4), 30 bệnh nhân được chẩn đoán có bướu giáp đơn thuần (có độ tuổi từ 22t đến 70t, tuổi trung bình là 43,3t), 30 bệnh nhân được chẩn đoán có bướu giáp nhân (đơn nhân hay đa nhân) bình giáp (có độ tuổi từ 28t đến 85t, tuổi trung bình là 59t), và 31 bệnh nhân được chẩn đoán cường giáp (Basedow và bướu giáp đa nhân cường giáp) (có độ tuổi từ 16t đến 77t, tuổi trung bình là 42,8t). Các bệnh nhân này không dùng bất kỳ một loại thuốc nào và cũng không trải qua bất kỳ một phương pháp điều trị gì trước đó.
Ở những bệnh nhân này, 20 phút sau khi tiêm tĩnh mạch 05 mCi99mTc-pertechnetate, hình ảnh tuyến giáp và độ tập trung 99mTc-pertechnetate tại tuyến giáp được đo với kỹ thuật ghi hình S.P.E.C.T.
Các số liệu thu được sẽ được xử lý để tính trị số trung bình và so sánh với số liệu của nước ngoài.