Các thương tổn gây chảy máu

Khuroo(9) trong thời gian 1992-1994 có 869 trường hợp chảy máu đường tiêu hóa trên, trong số này 9/869 (1,03%) phải mổ cấp cứu và 860 trường hợp được nội soi với các thương tổn ghi nhận ở Bảng 1.

Bảng 1: Vị trí thương tổn và nguyên nhân chảy máu (theo Khuroo(9)).

THƯƠNG TỔN

N

Loét tá tràng

533

Loét dạ dày

102

Loét miệng nối

45

Giãn tĩnh mạch thực quản

52

Viêm trợt dạ dày

43

Ung thư dạ dày

36

Hội chứng Mallory Weiss

34

Chảy máu đường mật

2

U cơ trơn dạ dày

2

Bất thường về mạch máu

1

Nội soi không thấy tổn thương

10

Ðánh giá các dấu hiệu chảy máu mới xảy ra qua nội soi trên 32,4% (220/680) trường hợp chảy máu do loét DD-TT (Bảng 2).

Bảng 2: Các dấu hiệu chảy máu mới xảy ra qua nội soi (theo Khuroo(9)).

Thương tổn

n=220

%

- Chảy máu phun thành tia (Spurting)

26

11,8

- Chảy máu rỉ rả (Oozing)

34

15,5

- Ngừng chảy, lộ mạch máu

35

15,9

- Cục máu đông bám dính

125

56,8

Chẩn đoán qua nội soi và giá trị tiên lượng theo phân loại cải biên của Forrest

Theo Bretagne(1), nội soi DD-TT cần được thực hiện nhanh chóng, giúp chẩn đoán chính xác vị trí, nguyên nhân, tiên lượng và còn để kết hợp điều trị cầm máu qua nội soi. Phân loại theo Forrest cải biên cho phép đánh giá khả năng chảy máu tái phát, dự kiến chỉ định điều trị cũng như tỷ lệ tử vong (Bảng 3).

Bảng 3: Giá trị tiên lượng theo phân loại qua nội soi của Forrest (theo Bretagne(1)).

Loại - mô tả

Xuất độ %

Chảy máu tái phát %

Ðiều trị ngoại %

Tử vong %

I. Chảy máu phun thành tia (Ia) hay rỉ rả (Ib)

18

55

35

11

IIa. Lộ mạch máu

17

43

34

11

IIb. Cục máu đông bám dính

17

22

10

7

IIc. Những chấm khác màu

20

10

6

3

III. Không chảy máu (miệng loét sạch)

42

5

0,5

2

ÐIỀU TRỊ CẦM MÁU Ổ LOÉT QUA NỘI SOI DẠ DÀY - TÁ TRÀNG

Theo Bretagne(1), khoảng 70-80% trường hợp chảy máu do loét DD-TT có thể tự cầm. Tuy nhiên những trường hợp chảy máu từ các mạch lớn rất khó tự cầm và thường tái phát vào ngày thứ 3 hoặc 4. Ðiều trị nhằm cầm máu và ngăn ngừa chảy máu tái phát sớm. Theo Saltzman(17), điều trị qua nội soi có tác dụng cầm máu hữu hiệu và hiện nay được áp dụng rộng rãi. Theo Chung(4), tỷ lệ thành công vào khoảng 95% trường hợp. Mặc dù vậy, có khoảng 15-20% chảy máu tái phát sau điều trị qua nội soi(1,11,13).

Theo Bretagne (1), cầm máu qua nội soi có 3 phương pháp chính: (1) phương pháp dùng nhiệt (laser, que đốt, sóng ngắn, đốt điện...); (2) tiêm cầm máu (Adrenalin / Epinephrin, cồn tuyệt đối); và (3) các phương pháp khác (kẹp bằng Clip, keo Fibrin...). Khuynh hướng chung hiện nay chọn phương pháp tiêm vì rẻ tiền và dễ thực hiện. Theo Lin(12), trên 65 trường hợp được nội soi cầm máu với các phương pháp, tác giả thấy không có sự khác nhau (P > 0,1). Tuy nhiên, theo Chung(4), nên kết hợp nhiều phương pháp như tiêm Adrenalin cùng với keo Fibrin / Thrombin và / hoặc là dùng nhiệt sẽ cho kết quả cầm máu tốt hơn.

Nagayama(13) nghiên cứu so sánh tác dụng cầm máu ở 2 nhóm: 100 trường hợp điều trị bằng Clip và 91 trường hợp được tiêm cồn tuyệt đối. Tỷ lệ thành công ở 2 nhóm như nhau, là 96% (96/100 so với 87/91) nhưng tỷ lệ chảy máu trở lại ở nhóm điều trị bằng Clip là 15% so với 29% ở nhóm tiêm cồn tuyệt đối.

Có thể điều trị cầm máu qua nội soi lần 2 trong trường hợp chảy máu tái phát, tuy nhiên ở bệnh nhân lớn tuổi nên chuyển qua điều trị phẫu thuật(1,4). Theo Jensen(8) điều trị nội soi lần 2 hay chỉ định phẫu thuật cấp cứu cần được lượng giá thêm.

Tóm lại: Ðiều trị qua nội soi có tác dụng cầm máu hữu hiệu trên 95% trường hợp và hiện nay đang được áp dụng rộng rãi. Ðiều trị qua nội soi lần 2 trong trường hợp chảy máu trở lại cũng cần được nghiên cứu thêm.