SO SÁNH TÁC DỤNG CỦA PROPRANOLOL VÀ ATENOLOL

TRONG ÐIỀU TRỊ NHỮNG BIỂU HIỆN NGOẠI BIÊN CỦA BỆNH

BASEDOW (GRAVES)

Phan Huy Anh Vũ *

TÓM TẮT

Tại Khoa nội I Bệnh viện đa khoa tỉnh Ðồng Nai, các tác giả khảo sát 44 bệnh nhân Basedow chia làm 2 nhóm, nhóm I dùng Propranolol (24 bệnh nhân), nhóm II dùng Atenolol (20 bệnh nhân) để so sánh tác dụng của chúng trong điều trị những biểu hiện ngoại biên của bệnh Basedow.

Qua thời gian nghiên cứu, tác giả đưa ra những kết luận sau:

· Atenolol có khả năng làm giảm tần số tim trong bệnh Basedow nhanh hơn Propranolol.

· Propranolol có khả năng làm giảm triệu chứng ngoại biên của Basedow như run tay, đổ mồ hôi trong khi chờ đợi tác dụng của thuốc kháng giáp, còn Atenolol có tác dụng hạn chế.

· Với liều điều trị thông thường, cả 2 thuốc đều có thể khống chế tần số tim trong bệnh Basedow mà không làm ảnh hưởng đến huyết áp.

SUMMARY

EFFECT COMPARISON OF PROPRANOLOL AND ATENOLOL IN THE TREATMENT OF EXTERNAL APPEARANCE OF GRAVES' DISEASE

Phan Huy Anh Vu * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 2 - 2001: 83 - 86

At internal department I of the general hospital of Dong Nai province, the authors examined over 44 Graves' patients, who were divided into two teams. The first team took Propranolol (24 patients), the second took Atenolol (20 patients) in order to compare their effect in the treatment of external appearance of Graves' disease.

After a period research, the authors gave the remarks as follows:

· Atenolol was capable to lessen the frequeney of heart from Graves' disease faster than Propranolol.

· Propranolol was capable to lessen the external symptoms of Graves' such as hand agitation, sweat dripping while awaiting the effect of Antithyroid drug, but Atenolol had limited effect.

· With a usual dose of medicine, both medicines wercable to dominate the frequency of heart from Graves' disease without causing effect to blood pressure.

ÐẶT VẤN ÐỀ

Trong điều trị nội khoa bệnh Basedow (Graves disease) nhóm ức chế Beta (b ) đã được biết đến từ lâu nhằm mục đích làm giảm đi những biểu hiện ngoại biên của cường giáp như: nhịp tim nhanh, run, lo lắng, đổ mồ hôi. Trong khi chờ đợi thời gian tác dụng của thuốc kháng giáp tổng hợp (trung bình khoảng 2 - 3 tuần sau khi bắt đầu dùng thuốc). Phần lớn hiệu quả của liệu pháp này có lẽ qua trung gian của việc ức chế receptor beta adrenergic và ức chế sự chuyển T4 thành T3 ở ngoại biên.

Trên thực tế lâm sàng Propranolol là thuốc được chọn lọc để điều trị, mà người ta ít đề cập đến các thuốc ức chế Beta khác. Nhưng gần đây người ta thấy các loại thuốc ức chế Beta khác như Atenolol, Metoprolol cũng có tác dụng tương tự như Propranolol.

Nghiên cứu này được làm nhằm mục đích theo dõi tác dụng hữu ích của các thuốc ức chế Beta (Propranolol và Atenolol) ở ngoại biên và tim, đồng thời so sánh tác dụng của Propranolol và Atenolol trong việc điều trị các triệu chứng ngoại biên của bệnh Basedow.

Ðề tài nghiên cứu này được thực hiện tại khoa nội I bệnh viện đa khoa Tỉnh Ðồng Nai.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ðối tượng nghiên cứu

- Tất cả các bệnh nhân hội đủ các điều kiện bên dưới được đánh số thứ tự 1, 2, 3,... dựa vào ngày nhập viện trước và sau.

* Nam hoặc nữ (không có thai)

* Tuổi 16 - 60 tuổi.

* Ðược chẩn đoán xác định Basedow.

+ Lâm sàng: Buớu giáp lan tỏa có kèm theo các triệu chứng cường giáp ngoại biên.

+ Cận lâm sàng: Có xạ hình, xạ ký tuyến giáp có hay không có kèm theo định lượng T3, T4, TSH.

* Chưa điều trị thuốc kháng giáp.

* Không kèm theo những bệnh chống chỉ định của thuốc ức chế Beta:

+ Suyễn.

+ Suy tim cung lượng tim thấp.

+ Loét dạ dày tá tràng tiến triển.

* Có điều kiện hợp tác cán bộ y tế.

Phương pháp

- Bệnh nhân được chia thành hai nhóm chẵn và lẻ dựa vào số thứ tự. Nhóm chẵn được điều trị với Propranolol (nhóm I). Nhóm lẻ được điều trị với Atenolol (nhóm II) như sau:

 

Nhóm I Propranolol

Nhóm II Atenolol

Biệt dược

Apo Propranolol

Atenolol

Liều test

10 mg

12,5 mg

Liều điều trị

20 mg x 2

25 mg x 2

Việc chọn liều như trên dựa trên cơ sở sau: liều thấp nhất có tác dụng của thuốc, tránh tác dụng phụ bất lợi của thuốc khi dùng liều cao và tiện cho việc so sánh tác dụng của hai nhóm thuốc.

- Cả hai nhóm cùng được điều trị với thuốc kháng giáp Neo mercazole 30mg/ngày. Bắt đầu từ ngày thứ năm sau khi điều trị với thuốc ức chế Beta.

- Các bệnh nhân được theo dõi như sau (vào các ngày thứ 1, 5, 10 kể từ ngày bắt đầu dùng thuốc).

Tần số tim

Bắt mạch quay và kiểm tra bằng ống nghe trong vòng một phút vào buổi sáng, sau khi nghỉ ngơi tại giường hơn 10 phút.

Huyết áp

Bệnh nhân được đo huyết áp sau khi nghỉ ngơi tại giường hơn 10 phút. Huyết áp được đo 3 lần và lấy trị số trung bình.

Run tay

Bệnh nhân được đánh giá run tay theo ba mức độ:

* Ðộ 0: không run.

* Ðộ 1: run ít, cần phải có tờ giấy mỏng để lên giữa hai tay để quan sát.

* Ðộ 2: run nhiều.

Sự tiết mồ hôi

Bệnh nhân úp hai tay lên tờ giấy thấm, sự tiết mồ hôi được chia làm 2 độ:

* Ðộ 0: không thấm.

* Ðộ 1: thấm.

ECG

Mỗi bệnh nhân được đo ECG ít nhất là ba lần vào các ngày 01, 02, 10 được tính kể từ ngày dùng thuốc đầu tiên.