Chuẩn bị một phết tế bào học

Chuẩn bị một phết tế bào hoàn hảo có ý nghĩa quan trọng cho kết quả chẩn đoán. Cho dù giai đoạn chọc hút có được làm tốt thế nào đi nữa, nhưng nếu tấm lam không thể đọc và cho chẩn đoán được, thì lần chọc hút đó cũng sẽ trở thành vô ích.

Tế bào phải được phết mỏng, không bị vặn vẹo. Lam phải được cố định đúng tùy theo phương pháp nhuộm được dùng. Nếu nhuộm bằng phương pháp Papanicolaou, phải cố định ngay tức thì trong cồn hay dung dịch cồn-ether hoặc phủ chất cố định ngay. Với kim số 23G, dài khoảng 2,5 cm, tế bào lấy ra được đủ để phết 5-6 lam. Tuy nhiên, nếu phết tế bào quá mỏng hoặc làm quá nhiều lam có thể làm tế bào bị vặn vẹo hay lam không đủ tế bào.

Quá trình phết tiêu bản tế bào học của chọc hút cũng giống như khi làm phết tế bào lấy từ tủy xương. Tùy thuộc tính chất của chất dịch hút ra (đặc hay loãng), sẽ có một số thay đổi trong các bước chuẩn bị tiêu bản. Phết một tấm lam dễ dàng hơn rất nhiều so với mô tả lại việc làm này. Ở đây chỉ mô tả rất ngắn quá trình chuẩn bị này.

Sau khi chọc hút xong, kim sẽ được tháo ra khỏi ống chích. Rút đầy không khí vào trong ống chích, sau đó gắn kim trở lại. Không cần phải tháo ống chích ra khỏi "súng", súng giúp thao tác trên ống chích dễ dàng hơn. Mặt vác của kim phải được đặt ngay trên bề mặt lam. Tống chất bệnh phẩm ra bằng cách dùng ống chích chứa đầy không khí, bơm xịt lên lam thành một giọt. Ðừng để đầu kim xa khỏi mặt lam, vì lúc đó bệnh phẩm được bơm ra, đi qua không khí, sẽ bị khô và tạo thành các hạt bụi và có thể bị bội nhiễm.

Quan sát đại thể giọt bệnh phẩm. Một người có kinh nghiệm có thể biết được chất bệnh phẩm rút ra đủ cho chẩn đoán hay chưa, và nếu cần, sẽ tiến hành chọc hút lại ngay.

Nếu rút ra dịch, nên hút hết dịch. Nếu vẫn còn lại một khối sau khi chọc hết dịch, phải chọc hút lại trên khối này. Nếu rút ra mủ, lấy một ít mủ đi cấy. Nếu rút ra chất hoại tử, cố gắng chọc lại ở vùng rìa của tổn thương tìm các tế bào còn sống.

Ngưng chọc nếu chọc ra nhiều máu ngay khi vừa đâm kim vì có thể đã đâm vào một mạch máu. Rất khó chẩn đoán đúng nếu lam đầy hồng cầu. Khi chọc vào một cơ quan nhiều máu như tuyến giáp, nên dùng kim số 25G. Rửa kim có thể thu được nhiều tế bào hơn, nhưng thường làm phân hủy và thoái hóa tế bào.

Khi chuẩn bị một phết tế bào, chỉ cần một giọt nhỏ chất bệnh phẩm, không cần lớn hơn đầu kim, nhỏ lên trên mặt lam thứ nhất (gọi là lam chẩn đoán). Một lam thứ hai, gọi là lam kéo. Ðặt lam kéo bắt chéo với lam chẩn đoán nhẹ nhàng trên giọt bệnh phẩm. Chất bệnh phẩm sẽ lan ra theo lực mao dẫn. Sau đó, kéo nhẹ lam kéo dọc theo chiều dài của lam chẩn đoán. Rìa của phết phải nằm hoàn toàn trên lam, không đi ra đến bờ lam, vì các phân tử lớn có khuynh hướng phân bố ở ngoại vi của phết. Rất ít hoặc không có tế bào dính lại trên lam kéo.

Một số lam cần để khô ngoài không khí để nhuộm Diff-Quik, những lam khác phải được cố định ngay lập tức để nhuộm Papanicolaou. Vào lúc bắt đầu làm, khi chất bệnh phẩm chỉ là một giọt trên lam, diện tích bốc hơi nhỏ và do đó nó không bị không khí làm khô đáng kể. Tuy nhiên, khi phết xong, diện tích bề mặt tăng lên và bề dày của phết giảm đi chỉ còn khoảng vài micrometre. Do đó, không khí sẽ làm khô bệnh phẩm nhanh chóng. Nếu nhuộm Papanicolaou, phải phết và cố định ngay (phải chuẩn bị đầy đủ, bao gồm ghi sẵn tên bệnh nhân, có sẵn dung dịch cố định...). Nếu cố định bằng cách ngâm, lam chẩn đoán phải được phết và bỏ ngay vào cồn. Nếu dùng phương pháp xịt - cố định, phải thử trước khi sử dụng và phải để sẵn. Cố định ngay khi vừa làm xong, không nên sửa soạn hết các phết rồi mới quay lại cố định chúng,. Nếu cần, nên có thêm một phụ tá xịt cố định lam. Với xịt cố định, tế bào có vẻ nhiều hơn, nhưng không tốt như cố định bằng nhúng vào cồn.

Diễn giải một mẫu bệnh phẩm tế bào qua chọc hút bằng kim nhỏ

Ða số đều cho rằng diễn giải một mẫu tế bào qua chọc hút là một việc làm mơ hồ và khó khăn. Ðiều này hoàn toàn sai.

Ở đây không nói chi tiết cách diễn giải một mẫu bệnh. Các tiêu chuẩn chẩn đoán tế bào học như đa dạng nhân, chất nhiễm sắc, hạt nhân... được áp dụng rộng rãi. Bất lợi của phương pháp chọc hút này là ở chỗ thường không có cấu trúc mô học do tế bào bị hút rời khỏi mô xung quanh. Có thể thấy các hình ảnh tế bào xếp thành dạng tuyến, dạng nhú, dạng đám đặc nhưng không mang một hình ảnh bình thường, nghĩa là những đám tế bào này không tựa trên nền mô đệm.

Tuy nhiên, một chìa khóa quan trọng trong chẩn đoán là sự kết dính tế bào (chi tiết này không thể có trong chẩn đoán mô học). Tế bào hoàn toàn rời rạc là đặc tính của limphôm. Ðối với u có nguồn gốc biểu mô, tế bào kết chặt với nhau là đặc tính của một tổn thương lành tính. Chọc hút được ít tế bào và trên phết là những mảng tế bào dày đặc, rất ít tế bào đơn lẻ. Khi ung thư, tế bào giảm tính kết dính. Do đó khi chọc hút thường được nhiều tế bào hơn, tế bào rời rạc hơn. Không được chẩn đoán trên một lam có quá ít tế bào.

Thông báo kết quả

Sau khi chọc hút, diễn giải lam, kết quả sẽ được thông báo cho thầy thuốc lâm sàng sao cho có lợi nhất. Kết quả chẩn đoán nên dùng các thuật ngữ giải phẫu bệnh, theo hệ thống Bethesda. Phân loại theo Papanicolaou đã lỗi thời và đã không còn được dùng trong nhiều thập niên qua. Có nhiều mức độ chẩn đoán xác định. Khi có chẩn đoán nghi ngờ, không chắc chắn, nên làm lại sinh thiết bằng dao hoặc chọc hút lại. Tuy nhiên, không được lạm dụng chẩn đoán "nghi ngờ", bởi vì chẩn đoán này không giúp ích gì nhiều cho lâm sàng cũng như cho bệnh nhân.

Diễn giải kết quả

Kết quả sinh thiết hay chọc hút chỉ là một phần của chẩn đoán. Chẩn đoán sau cùng dựa trên sự phối hợp giữa nhà lâm sàng và nhà tế bào học. Chọc hút để chẩn đoán tế bào học có độ nhạy cảm cao, độ đặc hiệu cao, tỷ lệ dương giả thấp. Tuy nhiên, không được dựa trên kết quả tế bào học để cho quyết định điều trị. Phải có sự kết hợp với lâm sàng, X quang và bệnh học. Nếu kết quả tế bào học không phù hợp lâm sàng, phải khảo sát thêm.

Không có bằng chứng của bệnh không phải là bằng chứng không đắt bệnh. Kết quả chọc hút âm tính vẫn không loại trừ được bệnh ác tính vì có thể khảo sát chưa đúng chỗ tổn thương. Kết quả âm tính phải phối hợp với bệnh cảnh lâm sàng. Nếu lâm sàng có bằng chứng ác tính rõ, phải làm thêm các khảo sát khác. Nếu lâm sàng có chẩn đoán lành tính, lúc đó kết quả âm tính mới được xem là chắc chắn.

Chẩn đoán dương tính có thể được xem là một chẩn đoán xác định. Tuy hiên khi lâm sàng còn nghi ngờ tính ác tính của tổn thương, nên làm thêm các xét nghiệm khác.