ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ðối tượng nghiên cứu

Tiêu chí chọn vào nhóm nghiên cứu

1) Bà mẹïï đang nuôi con dưới 4 tháng tuổi tại Quận 8, Tp. HCM.

2) Mẹ cư trú tại Quận 8 từ sáu tháng trở lên

3) Trẻ chưa từng được chẩn đoán nhiễm trùng rốn từ nhân viên y tế.

4) Gia đình đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

Tiêu chí loại ra khỏi nhóm nghiên cứu

1) Bà mẹïï bị chậm phát triển tâm thần hoặc có những biểu hiện bệnh lý về tâm thần kinh

2) Bà mẹïï có gia đình thường trú tại địa phương dưới 6 tháng tính đến ngày điều tra.

3) Trẻ đã từng được chẩn đoán là nhiễm tùng rốn bởi nhân viên y tế.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang, mô tả và phân tích

Cỡ mẫu: được xác định theo công thức:     

                                                                

 

Do phương pháp lấy mẫu cụm nên để tăng độ chính xác, chúng tôi sử dụng hiệu ứng thiết kế = 2 vì thế cần tăng gấp đôi cỡ mẫu, vậy mẫu cần thu thập n = 200 x 2 = 400

Kỹ thuật chọn mẫu: lấy mẫu cụm theo phương pháp xác suất tỷ lệ với kích cỡ dân số (PPS) với số cụm là 30.

Biến số nghiên cứu

Các biến số kiến thức: là biến số nhị giá với hai giá trị: kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng. Bao gồm các biến kiến thức đúng sau:

1) Thời gian rốn rụng ;

2) Phương pháp chăm sóc rốn

3) Dịch tiết tại rốn: dịch sinh lý, dịch bệnh lý

4) Biến số kiến thức chung.

Các biến số thái độ: là biến số nhị giá với hai giá trị: thái độ đúng và thái độ chưa đúng. Các thái độ đúng gồm:

1) Tháo băng rốn đã được NVYT băng kín lúc rời nhà bảo sanh;

2) Không tắm rốn đồng thời lúc tắm trẻ

3) Giữ cuống rốn luôn khô sạch

4) Không bôi bất kỳ dung dịch nào lên chồi rốn trẻ;

5) Không băng rốn cho trẻ;

6) Biến số thái độ chung.

Các biến số thực hành: là biến số nhị giá với hai giá trị: thực hành đúng và thực hành chưa đúng. Các thực hành đúng gồm:

1) Không băng rốn;

2) Không rửa rốn hoặc nếu rửa thì rửa bằng cồn, iode, nước chín;

3) Không bôi thuốc lên rốn lúc rốn chưa rụng;

4) Không bôi thuốc lên rốn lúc rốn đã rụng;

5) Không tắm rốn đồng thời với tắm trẻ;

6) Biến số thực hành chung.

Biến số độc lập: Tất cả những biến số độc lập cũng là những biến số nhị giá.

Những biến số đặc tính của bà mẹïï:

1) Tuổi: được phân thành 2 lớp: từ 24 tuổi trở xuống và 25 tuổi trở lên.

2) Nghề nghiệp: được chia thành hai lớp: Nội trợ và khác nội trợ

3) Học vấn: được chia thành hai lớp: từ cấp 2 trở lên và từ cấp 1 trở xuống

4) Số con: được chia thành hai lớp: chỉ có 1 con và từ 2 con trở lên

5) Khoảng cách sinh con (giữa trẻ được nghiên cứu và trẻ sinh kế trước đó): được chia thành hai lớp: từ 2 năm trở xuống và trên 2 năm.

6) Kinh tế gia đình (theo phân loại của chính quyền địa phương): được chia thành hai lớp: từ khá đến giàu; và từ trung bình đến nghèo.

Biến số đặc tính của con: giới tính con

PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ & PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Thang điểm đánh giá KAP

Ðược áp dụng để đánh giá theo cách dưới đây.

Thang điểm đánh giá kiến thức

Kiến thức đúng được tính 1 điểm và kiến thức chưa đúng được tính 0 điểm

Thang điểm đánh giá thái độ:

Thái độ đúng được tính 1 điểm và thái độ chưa đúng được tính 0 điểm

Thang điểm đánh giá thực hành

Thực hành đúng được tính 1 điểm, và thực hành chưa đúng được tính 0 điểm

KẾT QUẢ

Ðặc điểm về dân số xã hội của các bà mẹïï trong nghiên cứu

Trong 400 bà mẹïï được phỏng vấn chúng tôi có những kết quả sau: dân tộc kinh chiếm đa số (90%), tuổi mẹ trên 25 tuổi (70,8%), tuổi trung bình của mẹ: 28 tuổi, nội trợ là chủ yếu (54,8%), học vấn trình độ cấp 2 chiếm đa số (52,8%). Kinh tế gia đình: trung bình chiếm đa số (49,5%). Trong 400 trẻ nghiên cứu: tuổi nhỏ nhất: 4 ngày, tuổi lớn nhất: 120 ngày, tuổi trung bình: 60 ngày, con thứ nhất (53%), tỷ lệ nam nữ như nhau (nam (49,5) - nữ (50,5)), sinh tại bệnh viện chiếm đa số (78%), Việc chăm sóc rốn trong tháng đầu tiên do người trong gia đình (không liên quan đến ngành y đảm nhận) (87%)

Kết quả kiến thức chăm sóc rốn trẻ sơ sinh của các bà mẹïï

Phỏng vấn 400 bà mẹïï về các kiến thức chăm sóc rốn trẻ sơ sinh chúng tôi có kết quả như sau:Về thời gian rốn rụng: hầu hết các bà mẹïï trả lời đúng (86,8%); Về phương pháp chăm sóc rốn đúng: Hầu hết các bà mẹïï hiểu đúng, trả lời đúng ở những câu: giữ rốn không được ướt lúc tắm trẻ (khi rốn chưa rụng) (80,5%), tháo băng rốn đã được NVYT quấn kín lúc rời nhà bảo sanh (72,8%), việc giữ rốn khô và sạch (99,5%), dịch sinh lý tại rốn (86,3%), dịch bệnh lý tại rốn (98%). Các bà mẹïï trả lời chưa đúng về việc băng rốn kín (khi rốn chưa rụng) (97%), băng rốn kín (khi rốn đã rụng) (83%).

Kết quả thái độ chăm sóc rốn trẻ sơ sinh của các bà mẹï

Phỏng vấn 400 bà mẹïï về các thái độ chăm sóc rốn trẻ sơ sinh chúng tôi có kết quả như sau: Ðồng ý về việc tháo băng rốn đã được NVYT quấn kín lúc rời nhà bảo sanh (76, 5%) ; đồng ý không tắm rốn đồng thời lúc tắm trẻ (khi rốn chưa rụng) (84,4%); đồng ý giữ cuống rốn luôn khô sạch (khi rốn chưa rụng) (93,3%). Không đồng ý về việc không bôi bất kỳ dung dịch nào lên rốn trẻ (71,3%); không đồng ý về việc không băng rốn cho trẻ (99,7 %)

Kết quả về thực hành chăm sóc rốn trẻ sơ sinh của các bà mẹïï

Phỏng vấn 400 bà mẹïï về các thực hành chăm sóc rốn trẻ sơ sinh chúng tôi có kết quả như sau:

Thực hành đúng: 62,3% thực hành đúng trong việc bôi rốn khi rốn đã rụng; 97,7% thực hành đúng trong việc tắm trẻ; Thực hành chưa đúng: 95,7% trẻ đã từng được băng rốn, 79,3% thực hành chưa đúng vấn đề rửa rốn cho trẻ; 78% thực hành chưa đúng trong việc bôi rốn khi rốn chưa rụng. Trong nhóm thực hành chưa đúng với việc băng rốn, qua phỏng vấn chi tiết, chúng tôi ghi nhận thêm: 63,1% trẻ được băng rốn từ 30 ngày trở lên, 71,9% trẻ được băng rốn ở bất kỳ thời điểm nào, 90,3% trẻ được băng rốn bất kể ở đâu. Ðối với việc chăm sóc rốn, chúng tôi ghi nhận 74,8% các bà mẹïï chăm sóc rốn cho trẻ tại nhà khi rốn tiết dịch sinh lý, tuy nhiên cũng có 13,6% các bà mẹïï có những xử trí đầu tiên tiêu cực (cúng, khoán, cứu...). Khi rốn tiết dịch sinh lý, 47,85% các bà mẹïï không dùng chất liệu gì để rửa rốn, còn nếu có bôi rốn, chất liệu thường được bà mẹïï bôi rốn trẻ là: cồn (21%), dầu nóng (16,5%). Khi rốn đã rụng, chất liệu thường được bà mẹïï bôi rốn trẻ là: dầu nóng (50,6%) bên cạnh đó, một số chất liệu bất thường khác cũng được sử dụng là: tiêu sọ xay nhuyễn, thuốc xỉa, ruột thuốc lá, phân bò . (23,3%).