ÐÁNH GIÁ
KIẾN THỨC-THÁI ÐỘ-THỰC HÀNH
CỦA PHỤ NỮ ÐANG NUÔI CON DƯỚI 04 THÁNG TUỔI
VỀ VIỆC CHĂM SÓC RỐN TRẺ SƠ SINH TẠI QUẬN 8, TP.HCM
Huỳnh Thị Duy Hương*
TÓM TẮT
Tỷ lệ nhiễm trùng rốn sơ sinh vẫn hiện nay còn cao tại các nước đang phát triển và đây cũng là nguy cơ đưa đến uốn ván rốn, một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm trùng rốn được ghi nhận tại các bệnh viện có khoa sơ sinh ở Tp. HCM thay đổi từ 5% đến 52,31%, và đó cũng chính là cơ sở để hình thành nghiên cứu nêu trên. Mô thức nghiên cứu: cắt ngang, mô tả, phân tích. Nghiên cứu này tập trung về sự tồn tại những hủ tục nuôi con trong cộng đồng dân cư gây mất vệ sinh cho trẻ.
Các kết qủa thu được qua nghiên cứu này: 1) Kiến thức đúng về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh có p = 0,35; 2) Thái độ đúng về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh có p = 0,64; 3) Thực hành đúng về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh có p = 0,25; 4) Nhóm tuổi mẹ và học vấn có tương quan nghịch với kiến thức; 5) Tuổi mẹ tương quan nghịch với thái độ; 6) Bà mẹïï nhận thông tin về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh phổ biến nhất từ mẹ ruột mẹ chồng, từ nhân viên y tế (NVYT). Các phương tiện truyền thông chưa tham gia vào việc phổ biến các thông tin liên quan đến chăm sóc rốn trẻ sơ sinh; 7) Nguồn thông tin về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh có ảnh hưởng nhất đến các bà mẹïï là nguồn thông tin được cung cấp từ NVYT, từ mẹ chồng mẹ ruột.
Summary
Evaluation
of knowledge - attitude - pratice (kap)
of mothers caring infant under 4 month-aged
about neonatal umbilical cord care at 8th district, hochiminh city
Huynh Thi Duy Hương * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 2 - 2001: 92 - 99
The prevalence of neonatal omphalitis is still hight in the developing countries and it is also one of the risks causing neonatal umbilical cord tetanus, considered one of the leading neonatal fatal reasons. In VietNam, the proportion of neonatal omphalitis at some HCM city’s children-hospitals are ranged from 5% to 52.31% and some serious cases particulally caused neonatal septicemia. The study is based on these noted above. The design: cross-sectional, descriptive and analytic study.
This study is focused in a some field: to study the baby feeding depraved customs, the knowledge insufficiency of baby care, the harmful, unhygiene customs to babies.... in communities.
The study results: 1) P of right neonatal umbilical cord care knowledge is 0.35 2) P of right neonatal umbilical cord care attitude is 0.64 3) P of right neonatal umbilical cord care practice is 0.25 4) Maternal age and education have the inverse correlation with maternal knowledge 5) Maternal age has the inverse correlation with maternal attitude 6) The source of neonatal umbilical cord care‘ informations are supplied from: their mothers, health workers, popular communication means 7) The source of neonatal umbilical cord care‘ informations which effect actively to the mothers are supplied from: health workers, their mothers )
ÐẶT VẤN ÐỀ
Nhiễm trùng rốn hiện nay không là vấn đề cần quan tâm nhiều ở các quốc gia phát triển và đã được giảm thiểu ở những nước đang phát triển song song với đà tiến bộ của y học và sự tăng trưởng về kinh tế của đất nước. Tại các nước đang phát triển, tỷ lệ nhiễm trùng rốn sơ sinh vẫn còn cao và đây cũng là nguy cơ đưa đến uốn ván rốn, một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh(8). Thực tế tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm trùng rốn được ghi nhận tại các bệnh viện Tp. HCM thay đổi từ 5% đến 52,31%(1). Một số nguyên nhân thường gặp, có thể làm gia tăng tần suất nhiễm trùng rốn và uốn ván rốn ở những nước đang phát triển là:
1) Sinh tại nhà không đảm bảo vô trùng,
2) Mất vệ sinh do người đỡ sinh không được huấn luyện, cơ quan y tế còn nghèo nàn lạc hậu, không đảm bảo vô trùng trong các khâu đỡ sinh,
3) Sự tồn tại những hủ tục nuôi con trong cộng đồng dân cư, sự thiếu kiến thức săn sóc trẻ, những thói quen tập quán có hại gây mất vệ sinh cho trẻ.
Nghiên cứu này chỉ tập trung ở một khía cạnh nhỏ là nghiên cứu nguyên nhân 3), với mục đích đánh giá Kiến Thức - Thái Ðộ - Thực Hành (KAP) của các phụ nữ đang nuôi con dưới 4 tháng tuổi về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh. Việc khảo sát thực địa trước mắt được chọn nghiên cứu là Quận 8, Tp. HCM. Ðây là một quận có nhiều thành phần kinh tế, đặc điểm sinh thái đa dạng của thành thị, bán thành thị, nông thôn, bán nông thôn... qua đó hy vọng rằng sẽ phát hiện được nhiều thói quen tập quán tốt cũng như những hủ tục tồn tại lâu đời nay trong nhân dân đối với việc chăm sóc rốn trẻ sơ sinh, để có cơ sở cụ thể nhằm hoạch định chương trình GDSK cho các bà mẹïï về vấn đề chăm sóc rốn trẻ sơ sinh, góp phần nhất định làm giảm thiểu nhiễm trùng rốn sơ sinh trong thời gian sắp đến.
Mục tiêu chung của nghiên cứu này là: xác định KAP của phụ nữ đang nuôi con dưới 4 tháng tuổi về việc chăm sóc rốn trẻ sơ sinh. Ðể đạt được mục tiêu chung nêu trên, những mục tiêu chuyên biệt sau đây sẽ lần lượt được tham khảo:
1) Xác định tỷ suất hiện có (p)à kiến thức đúng của bà mẹïï về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh.
2) Xác định p về thái độ đúng của bà mẹïï về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh.
3) Xác định p về thực hành đúng của bà mẹïï về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh.
4) Xác định các mối liên quan giữa KAP của bà mẹïï với các đặc điểm dân số xã hội.
5) Xác định tỷ lệ các nguồn thông tin về những kiến thức và cách chăm sóc rốn trẻ sơ sinh thường được các bà mẹïï lắng nghe.
6) Xác định tỷ lệ các nguồn thông tin về những kiến thức và cách chăm sóc rốn trẻ sơ sinh có ảnh hưởng tới các bà mẹïï.
KHÍA CẠNH DỊCH TỄ CỦA NHIỄM TRÙNG RỐN SƠ SINH
Trên thế giới tỷ lệ nhiễm trùng rốn sơ sinh tương đối hiếm ở các nước phát triển và thường gặp nhiều hơn ở những nước đang phát triển(2). Tại Ấn Ðộ cho thấy khoảng 47% sơ sinh nhập viện vì nhiễm trùng, trong đó nhiễm trùng rốn là nguyên nhân chính và 21% sơ sinh nhập viện vì những lý do khác có kèm theo nhiễm trùng rốn(6). Theo Obimbo và cộng sự, tại khoa Nhi, Trường đại học Nairobi, Kenya, một nghiên cứu cắt ngang về KAP của các bà mẹïï và kiến thức của NVYT liên quan đến vấn đề chăm sóc rốn trẻ sơ sinh, cho thấy các bà mẹïï có kiến thức tốt trong việc giữ vệ sinh khi cắt rốn nhưng lại thực hành sai việc chăm sóc rốn trẻ(4). Tại Việt Nam, có thể điểm qua một vài con số cụ thể về nhiễm trùng rốn của bệnh viện Nhi Ðồng 1 Tp. HCM như sau: Năm 1997: 52,35%, năm 1998: 40,25%, năm 1999: 31,8%