Bảng 3: 27 trường hợp - điều trị truyền dịch ở tuyến trước:
|
Lượng dịch truyền (ml/Kg) |
Số ca |
% |
|
|
Tổng lượng dịch trung bình 153,5 ± 29,2 ml/kg |
< 100 |
09 |
34% |
|
100 -200 |
15 |
44% |
|
|
> 200 |
06 |
22% |
|
|
Lượng dd đại phân tử 92 ± 32 ml/kg |
< 40 |
09 |
34% |
|
40 -100 |
13 |
48% |
|
|
>100 |
05 |
18% |
Bảng 4: 34 trường hợp - điều trị tại khoa Nhi:
Xử trí
|
Cách xử trí |
Số ca |
% |
|
- Truyền dịch (điện giải, đại phân tử). - Truyền máu - Dopamin - Thở AL DLT |
34 14 18 10 |
100% 41% 52% 29% |
Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc tử vong
|
Thời gian |
Số ca |
% |
|
< 6h |
07 |
20% |
|
6h -12h |
09 |
27% |
|
12h - 24h |
10 |
29% |
|
> 24h |
08 |
24% |
Bệnh cảnh lâm sàng lúc tử vong (01 hoặc nhiều yếu tố phối hợp)
|
Thời gian |
Số ca |
% |
|
|
- XHTH - Sốc kéo dài - Tái sốc nhiều lần - Suy hô hấp - Hôn mê |
27 22 16 15 06 |
80% 65% 47% 44% 17% |
|
BÀN LUẬN
Các trường hợp tử vong
Trong 05 năm 1996 -2000, có 34 trường hợp tử vong do SXH-D. Tỷ lệ tử vong chung / SXH III-IV là 2,9%.
Tuổi
Tử vong tập trung ở độ tuổi 3-7tuổi (67%). Ðiều này phù hợp với tỷ lệ mắc bệnh cao ở lứa tuổi này (4).
Giới
Nam/Nữ = 16/18. Chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt về tử vong giữa 02 nhóm Nam và Nữ (p> 0,05).
Ngày vào sốc
Chủ yếu là ngày thứ 4 và 5 (79%). Ðiều này phù hợp với ghi nhận của các tác giả trong và ngoài nước (4,5,12).
Trong 34 trường hợp tử vong chỉ có 03 trường hợp đến sớm, còn 31 trường hợp (20 SXH độ IV và 11 SXH-độ III) nhập viện trễ, trong tình trạng sốc nặng. Ðây là 01 trong những nguyên nhân gây sốc kéo dài, sốc không hồi phục nên dễ dẫn đến tử vong dù được điều trị tích cực (7,9). Vì lý do đó, trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu của SXH-D, chúng ta cần tăng cường việc giáo dục sức khỏe cho các bậc cha mẹ, cho nhân viên y tế cơ sở nhận biết sớm bệnh SXH-D và xử trí đúng, kịp thời(11).
Ðiều trị tuyến trước
Có 27/34 trường hợp nhập viện ở tuyến trước trong tình trạng sốc được bù dịch chống sốc trong thời gian trung bình là 15,5 ± 4,2 giờ, lượng dịch trung bình 153,5± 29,2ml/kg, trong đó lượng dung dịch đại phân tử trung bình là 92 ± 22ml/kg.
Chúng tôi nhận thấy, lượng dịch trung bình và dung dịch đại phân tử đều cao. Ðây là những trường hợp sốc kéo dài hoặc tái sốc nhiều lần.
Qua hồi cứu các tổng kết bệnh án của tuyến trước chúng tôi nhận thấy:
Việc chọn lựa loại dịch truyền, nhất là dung dịch đại phân tử, còn tùy thuộc vào sự có mặt trên thị trường của Dextran 40, Dextran 70, hay Gelatin . chưa dựa trên đặc tính tác dụng của từng loại để chỉ định đúng lúc, đúng liều lượng(3,7).
Có những trường hợp đang truyền dung dịch đại phân tử với tốc độ cao>10ml/kg, được chuyển đột ngột sang dung dịch điện giải lại giảm tốc độ dịch truyền quá nhanh(3,7).
Việc đánh giá, theo dõi sốc trong tổng kết bệnh án cũng chỉ ghi nhận mạch, huyết áp; thay vì phải dựa trên nhiều yếu tố: Tri giác, mạch, huyết áp, độ ấm của da, thời gian hồi phục màu da, lưu lượng nước tiểu... Chính điều này có thể làm cho bệnh cảnh sốc kéo dài, và do phải lặp lại nhiều lần dung dịch đại phân tử nên lượng dịch truyền cao mà tình trạng bệnh vẫn nặng làm cho việc điều trị chống sốc về sau rất khó khăn và ít hiệu quả.
Xử trí tại Khoa Nhi
Hầu hết các bệnh nhân vào Khoa Nhi trong tình trạng nặng: Sốc, xuất huyết tiêu hóa, suy hô hấp, hôn mê . được xử trí chống sốc bằng truyền dung dịch điện giải, dung dịch đại phân tử, đo áp lực tĩnh mạch trung ương (CVP) để hướng dẫn điều trị tiếp theo.Trong 34 trường hợp chúng tôi thực hiện được 18 trường hợp đo CVP, thành công 11 trường hợp.
Có 14 trường hợp xuất huyết tiêu hóa nặng phải truyền máu. Các trường hợp xuất huyết trong bệnh cảnh sốc kéo dài, không có trường hợp nào xuất huyết sớm trước khi sốc. Sau khi truyền máu, tình trạng xuất huyết vẫn còn vì xuất huyết ở đây là do đông máu nội mạch lan tỏa, hậu quả của tình trạng sốc kéo dài.
Có 10 trường hợp thở áp lực dương liên tục qua mũi, 18 trường hợp dùng thuốc vận mạch Dopamin.
Nhưng các biện pháp hỗ trợ trên đã không hiệu quả do bệnh nhân quá nặng. Bệnh tử vong trong một hoặc kết hợp các bệnh cảnh sau: XHTH, sốc sâu không hồi phục, suy hô hấp, hôn mê..., hậu quả của sốc kéo dài hoặc tái sốc nhiều lần.
Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc tử vong: 76% các trường hợp tử vong trong 24 giờ đầu sau nhập viện, đặc biệt có 20% tử vong trước 06 giờ.
Ðiều này cho thấy đa số các trường hợp được chuyển đến Bệnh viện trong tình trạng quá nặng.
KẾT LUẬN
Trong 05 năm 1996-2000, có 1157 trường hợp sốc SXH được điều trị tại Khoa Nhi- BVÐKTG, trong đó có 34 trường hợp tử vong, chiếm tỷ lệ 2,9%.
Nguyên nhân chính gây tử vong là sốc kéo dài gây ra các hậu quả XHTH, xuất huyết não, suy hô hấp, sốc không hồi phục...
31 trường hợp nặng ngay khi mới vào viện đầu tiên, 27 trường hợp được chuyển từ tuyến trước sau khi thất bại với liệu pháp bù dịch mà tổng lượng dịch truyền tương đối cao. Khi vào Khoa Nhi-BVÐKTG, các trường hợp đều trong bệnh cảnh nặng, điều trị bằng truyền dịch, truyền máu, hỗ trợ hô hấp, dùng thuốc vận mạch... nhưng không hiệu quả.
Ðiều này nói lên rằng để làm giảm tử vong do SXH-D chúng ta cần phải:
Tăng cường giáo dục sức khỏe về SXH-D cho các bậc cha mẹ,nhân viên y tế cơ sở để họ biết phát hiện sớm bệnh SXH-D, xử trí đúng, kịp thời.
Tăng cường khả năng và chất lượng điều trị ở tất cả các cơ sở Y tế,để các cơ sở Y tế hồi sức chống sốc tại chỗ thật tốt, xử trí đúng phác đồ, theo dõi sát, tránh để bệnh nhân sốc kéo dài, tránh chuyển viện khi bệnh nhân đang sốc hoặc sốc chưa ổn định.
Trang bị đầy đủ các phương tiện hồi sức sốc như: Dụng cụ đo CVP, máy đo độ bão hòa oxy trong máu, bơm tiêm tự động, máy quay dung tích hồng cầu
Theo dõi sát bệnh nhân sốc SXH-D trong từng thời điểm diễn tiến của bệnh để có hướng xử trí kịp thời, tránh tái sốc dẫn đến sốc kéo dài.
Tất cả để đạt được mục tiêu hạ thấp tỷ lệ tử vong cho SXH-D đến mức thấp nhất có thể được, góp phần cùng toàn xã hội phòng chống SXH-D có hiệu quả, mang lại cuộc sống vui tươi cho mọi nhà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO