Các biến chứng của chọc hút tuyến giáp(4,6)

- Có thể gây phóng thích thyroglobulin tạo ra tình trạng cường giáp thoáng qua.

- Chọc vào khí quản, nhất là khi chọc hút ở eo tuyến giáp. Thường thì bệnh nhân không nhận biết được điều này hoặc chỉ bị ho. Người chọc hút biết được khi thấy ống chích đột nhiên tràn ngập khí. Tổn thương khí quản thường tự lành.

- Một biến chứng khác rất hiếm gặp là viêm cấp tính mô tuyến giáp bị hoặc sưng mô mềm không do chảy máu.

- Khi chọc hút ở vùng lân cận lồng ngực như vú, trên đòn, nách, có thể gây tràn khí màng phổi. Biểu hiện lâm sàng gồm đau ngực và vai đột ngột, đôi khi kèm theo khó thở. Tình trạng này thường tự giảm dần rồi tự khỏi. Hiếm khi phải dẫn lưu màng phổi(1,3,8).

- Ðối với các bướu nông trên bề mặt, biến chứng tử vong do chọc hút hầu như không xảy ra. Tuy nhiên, cũng có trường hợp sau khi chọc vào một bướu thể cảnh, bệnh nhân bị chết do huyết khối động mạch cảnh(2,5).

Biến chứng liên quan với chọc hút vào bướu nằm ở sâu(2,5)

Cũng hiếm gặp dù thường xảy ra hơn. Các biến chứng này phức tạp hơn, có thể rất nặng, và gây tử vong. Dù vậy, chọc hút vẫn có lợi hơn nhiều so với một phẫu thuật lớn chỉ nhằm mục đích chẩn đoán. Ngoài các biến chứng giống như khi chọc hút bướu nông, còn có các biến chứng như:

- Ho máu, tiểu máu, tinh dịch có máu, chảy máu đường tiêu hoá hoặc âm đạo, v.v..., tùy theo vị trí chọc hút. Dù các tình trạng này thường không trầm trọng, cũng nên báo trước để bệnh nhân không quá lo lắng.

- Có khối máu tụ, do trong phần lớn các trường hợp không thể cầm máu được bằng áp suất. Nếu đâm phải mạch máu lớn như động mạch chủ hoặc đâm vào tim hoặc vào gan cũng không gây chảy máu nặng, do kim chọc hút có kích thước nhỏ. Rất hiếm khi có chảy máu nặng hoặc tụ máu lớn cần phải truyền máu hoặc can thiệp phẫu thuật.

- Tràn khí màng phổi, dưới da, trung thất có thể xảy ra khi đâm kim xuyên lồng ngực hoặc khi chọc hút ở vùng bụng trên như gan, thận, thượng thận. Hầu hết các tràn khí màng phổi tự khỏi. Chỉ khoảng 5 - 10% trường hợp cần phải xử trí bằng cách đặt ống dẫn lưu hoặc chọc hút khí bằng kim lớn. Kiểm tra bằng X quang hoặc siêu âm sau khi chọc hút nhằm loại trừ tràn khí màng phổi. Nhưng trong vài trường hợp chỉ có thể phát hiện được tràn khí sau đó 6 giờ (tràn khí màng phổi chậm). Nguy cơ tràn khí màng phổi tăng rõ ràng khi dùng kim càng lớn, chọc nhiều đường, khi bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh phổi co thắt hoặc bệnh phổi bọng, hoặc do kích thước và vị trí bướu. Săn sóc sau chọc hút rất đơn giản bao gồm ngăn ngừa ho, hạn chế nói và hoạt động, đặt bệnh nhân nằm nghiêng về bên chọc hút ít nhất 1 giờ nhằm giảm tỉ lệ tràn khí màng phổi.

- Khi chọc hút ở bụng, kim có thể đâm xuyên qua ruột. Nhưng không có gì đáng lo ngại vì kích thước của kim nhỏ hơn hầu hết các loại kim khâu ruột thường dùng. Rất hiếm khi có thủng ruột hoặc viêm phúc mạc trên lâm sàng.

- Nhiễm trùng nặng có thể xảy ra khi chọc hút tuyến tiền liệt đang bị viêm (qua ngã xuyên trực tràng).

- Các biến chứng tăng amylase máu, viêm phúc mạc mật, viêm phúc mạc, viêm tụy, dò tụy hiếm khi xảy ra, ngoại trừ biến chứng tăng amylase máu. Tốt nhất là nên tránh ruột và đường mật khi có tình trạng tắc vì lúc đó sẽ tăng nguy cơ dò rỉ. Nếu bệnh nhân có cổ chướng cũng không làm tăng tỉ lệ biến chứng.

- Chọc hút một số tổn thương ở những vị trí đặc biệt thường làm tăng nguy cơ biến chứng. Chẳng hạn u sắc bào thượng thận (pheochromocytoma), u mạch máu, tổn thương ở tụy, carcinôm tế bào gan, và các mô bị nhiễm trùng.

- Các biến chứng khác hiếm gặp hơn gồm mất cảm giác tại chỗ, liệt mặt tạm thời, liệt tứ chi tạm thời sau khi chọc hút bằng kim vào cột sống cổ.

- Khi chọc dò và hút các nang thận có thể gây chảy máu quanh thận (thường gặp nhất), tràn khí màng phổi, dò động tĩnh mạch, nhiễm trùng.

- Khi dùng kim nhỏ, hiếm xảy ra tình trạng gieo rắc bướu trên đường chọc hút. So với sinh thiết bằng kim có nòng, gieo rắc bướu rất hiếm, và vì lý do đó người ta dùng chọc hút bằng kim nhỏ thay thế cho sinh thiết bằng kim có nòng.

CHỐNG CHỈ ÐỊNH(2,5,6)

Chống chỉ định chỉ có tính tương đối tùy vị trí cần chọc hút, tùy tình trạng bệnh nhân lúc được chọc hút. Với các thương tổn nằm nông, có rất ít chống chỉ định. Gồm:

- Bệnh nhân đang ho thì không được chọc hút tuyến giáp, hoặc xuyên qua lồng ngực vì tăng nguy cơ chảy máu do đầu kim có thể xé rách các cơ quan.

- Bướu thể cảnh.

- Viêm tuyến tiền liệt.

- Người có tạng chảy máu hoặc đang dùng thuốc chống đông.

- Bệnh nhân nghi ngờ có bướu máu (bất thường động tĩnh mạch, sarcôm mạch máu) không nên làm chọc hút vì nguy cơ chảy máu cao và thường chất bệnh phẩm lấy được không đủ cho chẩn đoán.

- Các chống chỉ định chọc hút bằng kim xuyên qua lồng ngực gồm khí thủng phổi tiến triển, nhất là dạng khí thủng hình bọng, tăng áp suất động mạch phổi nặng, thiếu oxy máu không điều chỉnh được bằng liệu pháp oxy, đang được giúp thở hoặc bệnh nhân không có khả năng khạc đàm.

- Bệnh nhân nghi ngờ có nang sán (Echinococcus) cũng không được chọc hút vì có thể gây choáng phản vệ.

- Bệnh nhân không hợp tác hoặc quá lo lắng.

(còn tiếp 1 kỳ)