Kỹ thuật thông tiểu sạch cách quãng (TTSCQ), được tác giả Lapides ở Mỹ đề xuất từ năm 1972, hiện nay đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới để điều trị các bệnh nhân bị rối loạn chức năng đường tiểu dưới như bệnh lý bàng quang thần kinh (BQTK).
Từ năm 1994, chúng tôi đã áp dụng phương pháp này cho 53 trường hợp (t/h) phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng ruột, bao gồm 39 t/h mở rộng bàng quang bằng ruột (MRBQBR), 2 t/h thay thế bàng quang bằng ruột (TTBQBR) và 12 t/h tạo túi chứa nước tiểu với miệng chuyển lưu có kiềm chế.
Sự phối hợp này đem lại lợi ích cho cả hai phương pháp điều trị nêu trên: giúp mở rộng khả năng thành công cho các phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng ruột, mặt khác cũng mở rộng chỉ định cho phương pháp TTSCQ.
COMBINATION
OF CLEAN INTERMITTENT CATHETERIZATION
AND INTESTINOCYSTOPLASTY
The technique of clean intermittent catheterization, promoted by J. Lapides in the United States since 1972, has become popularizing worldwide for treatment the patients with lower urinary tract dysfunction such as neurologic bladder.
Since 1994, we have applied this technique for 53 cases of intestinocystoplasty including 39 augmentation intestinocystoplasties, 2 substitution intestinocystoplasties, and 12 urinary pouches with continent stoma.
This combination makes benefit to the both methods of treatment: expanding the possibilities of succession for intestinocystoplasties, and in the other hand widening the indications for the technique of clean intermittent catheterization.
Năm 1992, chúng tôi thực hiện một trường hợp mở rộng bàng quang bằng hồi tràng trên một bệnh nhân có dung tích bàng quang co nhỏ do bệnh lý BQTK và gây biến chứng ứ nước 2 thận (b/n Nguyễn thị Út E., sinh năm 1973, số HS = 2094/92N). Sau mổ, mặc dù dung tích bàng quang được mở rộng đáng kể, nhưng tình trạng của bệnh nhân hầu như không cải thiện: đi tiểu rất khó khăn, tồn lưu nhiều nước tiểu trong bàng quang và sốt cao kéo dài do thận ứ nước nhiễm trùng khiến cho bệnh nhân phải nhập viện tái đi tái lại nhiều lần. Thất bại này khiến cho chúng tôi phải tạm ngưng những phẫu thuật tạo hình tạo hình bàng quang bằng ruột trong một thời gian cho đến khi áp dụng phối hợp với phương pháp TTSCQ.
Là những bệnh nhân bị những bệnh lý bàng quang được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng ruột, gồm có:
v mở rộng bàng quang bằng ruột,
v thay thế bàng quang bằng ruột,
v túi chứa nước tiểu bằng ruột với miệng chuyển lưu có kiềm chế.
Theo dõi các bệnh nhân sau mổ, nếu sự đi tiểu qua ngả niệu đạo là không thể được hoặc không hiệu quả thì chúng tôi sẽ cho tiến hành TTSCQ.
Thời điểm bắt đầu thực hiện là khoảng 3-4 tuần sau mổ, sau khi đã rút các ống thông dẫn lưu bàng quang.
Phương pháp này được huấn luyện cho bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân như sau:
- Nhịp độ thông tiểu mỗi 2 - 4 giờ, tùy theo dung tích chứa đựng của bàng quang tân tạo và khả năng kiềm chế nước tiểu.
- Rửa tay bằng xà phòng với nước sạch,
- Dùng thông tiểu sạch đặt qua ngả niệu đạo hoặc qua miệng chuyển lưu có kiềm chế sau khi sát trùng miệng niệu đạo hoặc miệng chuyển lưu bằng dung dịch sát khuẩn (thuốc tím), phối hợp với rặn tiểu và đè ép vùng hạ vị (thủ thuật Crédé) để làm thoát lưu nước tiểu một cách hiệu quả,
- Sau khi rút thông, rửa sạch ống thông cả ngoài lẫn trong bằng vòi nước sạch, sau đó ngâm ống vào dung dịch sát khuẩn (thuốc tím) chờ lần sử dụng sau.
- Luộc sôi ống thông và thay dung dịch sát khuẩn mỗi ngày.
* Từ 1994 - 1999, có 53 bệnh nhân được phối hợp phương pháp TTSCQ sau khi đã được phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng ruột, gồm có:
a. 39 t/h MRBQBR
b. 12 t/h túi chứa nước tiểu bằng ruột với miệng chuyển lưu có kiềm chế
c. 2 t/h TTBQBR
* Trong đó:
a. 49 b/n tự thông tiểu qua miệng chuyển lưu có kiềm chế
b. 4 b/n tự thông tiểu qua ngả niệu đạo, gồm có 2 b/n đã được TTBQBR nhưng rặn tiểu không hiệu quả, 1 b/n đã được MRBQBR đơn thuần, 1 b/n đã được MRBQBR với miệng chuyển lưu có kiềm chế - trước mổ tỏ ý muốn đặt thông qua miệng chuyển lưu nhưng sau mổ lại thích đặt thông tiểu qua ngả niệu đạo.
* Trong 49 t/h thông tiểu qua miệng chuyển lưu có kiềm chế:
a. 41 b/n tiếp tục duy trì phương pháp TTSCQ cho đến nay
b. 8 b/n ngưng áp dụng phương pháp này mà đặt thông dẫn lưu nước tiểu thường trực qua miệng chuyển lưu (xem như là mở bàng quang ra da vĩnh viễn)
* Trong số 8 t/h được xem là thất bại của việc phối hợp TTSCQ với tạo hình bàng quang bằng ruột:
a. 7 t/h là do miệng chuyển lưu không đạt được hiệu quả kiềm chế
b. 1 t/h là do b/n "lười" đặt thông nhiều lần trong ngày, mặc dù miệng chuyển lưu có kiềm chế hoạt động tốt.