NỘI SOI CHẨN ÐOÁN VÀ NỘI SOI CAN THIỆP
CÁC BỆNH ÐƯỜNG TIÊU HOÁ

Nguyễn Ðình Hối*


Trong khoảng thời gian vài chục năm nay, nhờ những phát minh trong quang học và những cải tiến trong dụng cụ Y khoa, Nội soi chẩn đoán đã góp phần đáng kể trong việc tìm hiểu bệnh tật và Nội soi can thiệp đã làm thay đổi nhiều trong chỉ định, trong lựa chọn phương pháp và trong kỹ thuật điều trị. Với tốc độ của những tiến bộ khoa học như hiện nay, chắc chắn trong tương lai gần các thầy thuốc chúng ta còn được hưởng nhiều những thành tựu của khoa học trong lãnh vực Y khoa.

Ngày nay Nội soi đang đi vào tất cả các tạng, các "vùng sâu" của cơ thể. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến Nội soi chẩn đoán và Nội soi can thiệp các bệnh đường tiêu hóa. Trong lần sau chúng tôi sẽ đề cập một vấn đề khác là Nội soi đường mật.


SỰ RA ÐỜI CỦA NỘI SOI

Từ nhiều thế kỷ qua, quan sát được các cơ quan, các bộ phận nằm sâu bên trong của cơ thể là mơ ước của các thầy thuốc.

Từ xa xưa, để có thể nhìn được lòng trực tràng, Hippocrates (năm 460-377 trước công nguyên) - cha đẻ của nền Y học thế giới - đã mô tả dụng cụ banh trực tràng.

Sau một thời gian khá dài, vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, một thầy thuốc người Hy Lạp là Archigenes sáng chế ra dụng cụ banh âm đạo để quan sát thương tổn.

Ở thời kỳ sơ khai này, hai trở ngại lớn nhất của Nội soi là ống soi cứng không uốn được nên không thể đưa tới các tạng nằm sâu trong cơ thể và ánh sáng yếu không đủ để nhìn rõ thương tổn.

Hàng ngàn năm sau, một thầy thuốc người Ả rập là Albukasim (936-1013) dùng ánh sáng phản chiếu để quan sát cổ tử cung.

Năm 1600, Peter Borell (Pháp) sáng chế ra gương lõm để phản chiếu và hội tụ ánh sáng vào cơ quan cần quan sát.

Năm 1768, Arnaud một thầy thuốc sản khoa người Pháp dùng đèn lồng của kẻ trộm để chiếu sáng cổ tử cung.

Sang thời kỳ mới của nội soi, năm 1807, Philip Bozzini (Ðức) dùng một ống thẳng bằng thiếc, một ngọn nến và một cái gương để soi đường tiểu và soi trực tràng.

Năm 1868, Adoff Kussmaul (Ðức) chế tạo dụng cụ soi dạ dày tương tự như dụng cụ của Bozzini. Với dụng cụ nội soi này, bệnh nhân rất sợ hãi, hình ảnh không rõ, lại có nguy cơ cháy nổ nên không được phổ biến.

Năm 1879 Maximillian Nitze chế tạo ống soi bàng quang, có kênh tưới nước và có hệ thống lăng kính. Nhờ phát minh bóng đèn đốt nóng bằng dây tóc của Thomas Edison, nguồn sáng của ống soi là một bóng đèn nhỏ đặt ở đầu trong ống soi. Nguy cơ cháy nổ không còn nữa nhưng sức nóng của bóng đèn có thể làm tổn hại mô của của tạng cần quan sát và các tạng chung quanh. Ống soi của Nitze chỉ dùng được cho bàng quang vì trong bàng quang có nước, ống soi được làm nguội. Ống soi này được dùng ở bàng quang để chẩn đoán và để lấy sỏi.

Năm 1901, George Kelling (Ðức) dùng ống soi bàng quang và dụng cụ bơm hơi vào ổ phúc mạc để soi ổ bụng chó.

Năm 1910, Hans Christian Jacobaeus (Thụy Ðiển) dùng kính soi bàng quang để soi ổ bụng và lồng ngực người.

Năm 1928, Logic Baird dùng sợi quang học để dẫn truyền ánh sáng.

Năm 1930, Hansell (Mỹ) và Lamm (Ðức) làm gia tăng vận tốc truyền ánh sáng trong sợi quang học.

Năm 1932, Rudolf Schinder và Georg Wolf chế tạo ống soi dạ dày nửa mềm. Với ống soi này, hình ảnh được truyền đi bằng một số lăng kính nối khớp nhau.

Năm 1952, Fourestier phát minh ra ánh sáng lạnh. Gọi là ánh sáng lạnh vì nguồn sáng không gắn vào đầu trong ống soi mà được đặt ở ngoài cơ thể nên các tạng được quan sát không bị làm nóng. Ánh sáng ở bên ngoài được truyền vào trong cơ thể qua những que thạch anh.

Năm 1960, Harold H. Hopkins dùng hệ thống thấu kính hình que (rod-lens) để chế tạo kính soi. Qua hệ thống thấu kính hình que, khả năng dẫn truyền ánh sáng tăng gấp nhiều lần so với hệ thống kính soi cũ. Kính này cho những hình ảnh rõ và sắc nét.

Năm 1963, Basil Hirschnowitz và Karl Storz truyền ánh sáng lạnh qua cáp quang. Từ đây, nguồn sáng lạnh dẫn truyền bằng cáp quang thay cho nguồn sáng của các bóng đèn dây tóc.

Từ những năm của thập niên 60 thế kỷ 20, nhiều loại ống soi mềm ra đời dùng để soi thực quản, dạ dày, tá tràng, đại tràng, đường mật, khí phế quản, niệu đạo, niệu quản...

Năm 1983 Welch Allyn phát minh hệ thống nội soi video dùng cho ống nội soi mềm. Loại này cho chất lượng hình ảnh rất tốt. Ở một vài bệnh viện của chúng ta đã bắt đầu sử dụng loại ống soi này.

Nội soi đơn thuần chỉ nhìn thấy niêm mạc của các tạng được soi. Nội soi siêu âm (Endosonography) ra đời. Loại máy này rất tốt cho việc đánh giá chiều sâu và mức độ xâm lấn của thương tổn, rất cần thiết trong chẩn đoán giai đoạn của ung thư đường tiêu hóa. Nó còn cho phép quan sát thương tổn của các cơ quan lân cận. Một vài bệnh viện của chúng ta đang sử dụng cho kết quả rất tốt.

Năm 1986, ra đời loại ống soi gắn mini camera có vi mạch điện toán. Một năm sau khi loại ống soi gắn mini camera có vi mạch điện toán ra đời thì phẫu thuật cắt túi mật nội soi đầu tiên ra đời ở Pháp và một vài năm sau thì đâu đâu cũng cắt túi mật nội soi.

Như vậy, qua nhiều thế kỷ tìm tòi và phát minh, ba bước đột phá được ghi nhận:

- Thứ nhất, sự phát minh ra bóng đèn đốt nóng bằng dây tóc của Edison và sự phát triển của hệ thống thấu kính dùng cho nội soi vào những thập niên 80-90 của thế kỷ 19.

- Thứ hai, sự phát minh ra hệ thống thấu kính hình que của Hopkins cùng với ánh sáng lạnh dẫn truyền qua cáp quang vào những thập niên 50-60 của thế kỷ 20.

- Thứ ba, sự ra đời của mini camera có vi mạch điện toán vào thập niên 80 của thế kỷ này.

Với những phát minh và những cải tiến trên, những máy Nội soi ngày nay có rất nhiều tính năng:

- Có thể đưa ống soi vàĝo các tạng nằm sâu trong cơ thể vì ống có thể uốn được để đi theo mọi hướng.

- Hình ảnh thu được rất sáng và sắc nét mà các tạng không bị làm nóng vì có nguồn ánh sáng lạnh.

- Ðầu trong của ống soi được điều khiển ở ngoài có thể quay theo nhiều hướng và vật kính được đặt ở chính giữa hay ở bên đầu trong ống giúp nhìn khắp nơi của tạng được soi, nội soi không có vùng mù.

- Ống soi có nhiều kênh để bơm rửa, hút, cho các dụng cụ vào để chải, để sinh thiết và để làm các thủ thuật khác.

- Các tạng quan sát được phóng đại lên nhiều lần và hiện lên màn ảnh có độ phân giải cao, có màu trung thực và rõ nét giúp cho người soi, người phụ và những người khác cùng nhìn thấy. Người soi không phải dán mắt vào ống soi như trước kia.

- Các hình ảnh không những hiện trên màn ảnh trong phòng soi mà còn có thể được truyền đi xa hoặc rất xa, rất lợi cho công tác huấn luyện.

Những phát minh này giúp ích rất nhiều cho Nội soi chẩn đoán, Nội soi can thiệp và giúp Phẫu thuật nội soi ra đời, phát triển.