MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ TỬ VONG
TRONG CẤP CỨU VẾT THƯƠNG VÀ CHẤN THƯƠNG TIM
TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY TỪ 1/1987 ÐẾN 6/2000

Trần Quyết Tiến·

TÓM TẮT

Từ 1/1987 đến 6/2000 tại BV Chợ Rẫy có 133 trường hợp vết thương - chấn thương tim với tử vong là 40 trường hợp mà nguyên nhân là do vết thương tim, không trường hợp tử vong nào do chấn thương tim. Nữ: 7,5%. Nam: 92,5%. Do bạch khí: 95%, hỏa khí: 5%. Chết trên đường tới bệnh viện: 75%, chết tại phòng cấp cứu: 10%, chết sau mổ: 5%. Nguyên nhân tử vong chủ yếu là mất máu trầøm trọng: chỉ do vết thương tim: 42,5%, có kết hợp tổn thương nặng khác: 37,5%. Tử vong do chèn ép tim cấp: 17,5%. Kích thước tổn thương ở tim chiếm nhiều nhất là từ 1,5 đến 2 cm: 42,5%% và từ 2,1 đến 2,5cm: 25%. Phần lớn bệnh nhân đến từ khu vực thành phố Hồ Chí Minh: 90%. Vết thương tim là loại vết thương chết người do mất maú nhanh chóng đặc biệt là khi có kèm theo tổn thương các cơ quan nội tạng khác như mạch máu lớn trong trung thất, phổi, gan... Tỉ lệ tử vong sẽ rất cao.

Vết thương tim nên được mổ ngay ở những trung tâm y tế gần nơi bị nạn nhất mới có thể cứu sống nạn nhân. Trong điều kiện ngày nay, khi chúng ta có bệnh nhân đến những trung tâm y tế lớn, chúng ta cần phải chẩn đoán và chỉ định mổ nhanh chóng kết hợp với hồi sức hiệu quả. Ðây là hướng phấn đấu nhằm giảm tỉ lệ tử vong.

SUMMARY

REMARKS ON THE DEATH OF PENETRATING CARDIAC INJURIES
AND CARDIAC RUPTURES AT CHO RAY HOSPITAL (1/1987 - 6/2000)

Tran Quyet Tien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 1 - 2001: 32 - 37

From 1/1987 to 6/2000 in Cho Ray Hospital, we received 133 cases of penetrating cardiac injuries and cardiac ruptures. Among these cases were 40 deaths because of penetrating cardiac injuries; none of these were cardiac ruptures. Women:7.5%, Men: 92.5%. Stab wounds: 95%, gunshot wounds: 5%. Death of patient on arrival: 75%, at emergency room: 10% and postoperation: 5%

The main cause of death was severe hemorrhage: only penetrating injuries of the heart: 42.5%, and association of other important lesions: 37.5%. The death caused by acute temponade: 17.5%. The important size¢ lesion of the heart were: from 1.5 to 2 cm: 42.5% and from 2.1 to 2.5cm: 25%. The majority of patients came from Ho Chi Minh city: 90%. Penetrating cardiac injuries were mortal lesions and particularly they were accompanied by the lesions of other important organs as vessels in the mediastinum, the liver or the lung. ect.. the mortal rate is very hight. The penetrating cardiac injuries should be operated in the nearest medical center for saving the patient. Now and day, in our conditions, if the patient with vital signs presents at the center hospital we have to make a diagnosis and an operative indication right away in associating with maximum resuscitation. This is our direction to reduce the mortal rate.

ÐẶT VẤN ÐEÀ

Ngày nay mặc dù Y học đã có những tiến bộ vượt bậc nhưng nói chung cấp cứu ngoại khoa do vết thương và chấn thương tim vẫn chiếm tỉ lệ tử vong hàng đầu. Trong thời gian từ 1/ 1987 đến 6/2000 Khoa cấp cứu và Khoa Ngoại Tim - Mạch và Lồng ngực BV. Chợ Rẫy đã gặp 133 trường hợp vết thương và chấn thương tim trong đó có 40 trường hợp tử vong. Qua tổng kết, phân tích những trường hợp tử vong này chúng tôi rút ra những nhận xét nhằm tích tũy kinh nghiệm để cứu chữa nạn nhân hiệu quả hơn.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ðối tượng nghiên cứu

Trong vòng từ 1/1987 đến 6/2000 tất cả những trường hợp bị tử vong do vết thương hoặc chấn thương tim vào Khoa cấp cứu BV Chợ Rẫy: đã được chẩn đoán xác định có tổn thương tim trong lúc mổ cấp cứu hoặc nếu không được mổ cấp cứu thì có xác định bằng kết quả mổ tử thi.

* Bao gồm những tình huống sau:

- Nạn nhân tử vong trên đường vận chuyển đến Khoa cấp cứu: ngay sau khi bị nạn bệnh nhân được chuyển đến BV Chợ Rẫy nhưng khi đến nơi nạn nhân không còn sinh hiệu và được xác nhận là đã tử vong, không còn khả năng cứu nữa.

- Nạn nhân tử vong tại Khoa cấp cứu: lúc vào tới Khoa cấp cứu bệnh nhân còn sinh hiệu và tri giác hoặc lơ mơ thậm chí đã mất tri giác không còn tiếp xúc nhưng tim còn nghe được và thân nhiệt còn ấm. Qua một thời gian rất ngắn tiến triển xấu rất nhanh không cấp cứu kịp.

 - Nạn nhân tử vong trong và sau mổ cấp cứu.

- Những bệnh nhân đã được chẩn đoán và mổ tại bệnh viện địa phương nhưng sau đó chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy nhằm hồi sức tiếp hoặc điều trị biến chứng.

Ðối tượng không nghiên cứu

Những trường hợp tử vong được chẩn đoán là nghi do chấn thương tim hoặc vết thương ngực chưa loại trừ do vết thương tim... mà không mổ tử thi.

Kết quả nghiên cứu

40 trường hợp tử vong tử vong đều do vết thương tim không trường hợp (th) nào do chấn thương tim.

·         Nữ: 3 th (7,5%)

·         Nam: 37 th (92,5%)

* Hỏa khí: 2 th (5%), Dao và các vật sắc nhọn khác: 38 th (95%).

* Chỉ có 4 th (10%) ở tỉnh khác chuyển đến, còn lại 36 th (90%) đều đến từ thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian từ lúc bị thương cho đến khi vào bệnh viện Chợ Rẫy

Không tính đến những trường hợp đã mổ ở bệnh viện tỉnh sau đó chuyển lên do không được ghi nhận chính xác: 4 trường hợp). Xác định thời gian chính xác theo phút từ lúc bệnh nhân gặp nạn đến lúc vào BV Chợ Rẫõy mới có ý nghĩa cấp cứu trong loại tổn thương này nhưng có khi người mang nạn nhân đến chỉ ước lượng tương đối (chỉ tính ở 36 th).

- Thời gian đến nhanh nhất là 10 phút: bệnh nhân bị đâm cách bệnh viện khoảng 700 - 800m. Ngay sau đâm bệnh nhân được đưa đến bệnh viện.

- Thời gian dài nhất là 8 giờ 30 phút nạn nhân bị bắn xuyên ngực trái ở huyện Tân biên (Tây ninh) nhập bệnh viện huyện, tỉnh sau đó chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy mổ.

- Thời gian trung bình: 2 giờ 30 phút.

- Tính riêng 1 th đặc biệt: nhập viện sau 6 ngày.

Thời gian từ lúc vào Bệnh viện Chợ Rẫy đến lúc mổ

Chỉ tính những trường hợp mổ tại bệnh viện Chợ Rẫy: 4 th.

Nhanh nhất là bệnh nhân được đẩy thẳng lên phòng mổ, trung bình là 10 phút.

- Tử vong tại cấp cứu: 4 th (10%)

- Tử vong trong lúc mổ: 4 th (10%).

- Tử vong sau mổ: 2 th (5%).

- Tử vong trong lúc di chuyển đến BV Chợ Rẫy: 30 th (75%).


· Phân môn Ngoaị Tim - Mạch và Lồng ngực BV.Chợ Rẫy - Khoa Y ÐHYD.Tp.HCM