Lộc Thị Quý*, Lê Văn Nhi*, Nguyễn Việt Cồ**
Lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV(+) và gặp ở mọi giai đoạn của nhiễm HIV, khi mà đếm số lượng CD4 không phải là xét nghiệm thường qui và có giá trị tiên lượng mức độ suy giảm miễn dịch. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối tương quan giữa đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang phổi và số lượng CD4 để xem có thể dùng hình ảnh X quang phổi (kết hợp với các đặc điểm lâm sàng) như là một phương tiện hỗ trợ đánh giá tình trạng miễn dịch của bệnh nhân lao/HIV (+).
Với nghiên cứu này, ở giai đoạn HIV tiến triển (CD4 < 200), chúng tôi ghi nhận được hình ảnh X quang phổi gặp ở cả hai dạng điển hình (lao thứ phát) và không điển hình (lao nguyên phát), giống kinh điển, tổn thương thâm nhiễm tạo hang giảm dần khi suy giảm miễn dịch tăng lên và dạng tổn thương thâm nhiễm không hang gặp ở vùng giữa và đáy phổi cao 72,22% (13/18), lao phổi phối hợp lao ngoài phổi 21% (14/67), nhiều hơn lao ngoài phổi đơn thuần (2,35%) và có tỉ lệ tử vong cao ở dạng phối hợp này 92,86% (13/14), đáng chú ý là AFB(+) 65,67% (44/67), phần lớn ở dạng thâm nhiễm mô kẽ lan tỏa hoặc lao kê hai phổi, các triệu chứng liên quan HIV xuất hiện với tần suất cao (sốt cao kéo dài, suy kiệt cơ thể nặng, tiêu chảy kéo dài, nấm miệng, họng hoặc nấm da toàn thân, loét da...)
Trung bình CD4 của lao/HIV(+) là 136,28/mm3 và trung bình CD4 của lao lan tỏa phối hợp nhiều cơ quan là 94,4/mm3
Loc Thi Quy, Le Van Nhi, Nguyen Viet Co * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * - Vol. 5 - No 1 - 2001: 41 - 47
Pulmonary tuberculosis is the commonest opportunistic infection in patients with human immunodeficiency virus infection and occurred at all stages of HIV infection, when CD4-T lymphocyte counts are not routinely available and have the prognostic value on immunocompetence of HIV seropositive patients. The aims of this study is to investigate the relationship between clinical features, radiographic appearance and CD4-T lymphocyte counts among HIV infected patients with tuberculosis. In this setting, radiographic criteria (combined with clinical features) can use as a useful adjunct to immunological status in HIV associated tuberculosis patients evaluating. In advanced HIV infection (CD4 <200/mm3), patients present both typical and atypical chest radiographs (post primary and primary tuberculosis), resemble classical pattern descriptive, the proportion with cavitary lesions decreased with advancing levels of immune deficiency and parenchymal infiltrate without cavitation in mid or lower zone is more frequent 72, 22% (13/18), pulmonary combined with extrapulmonary 21% (14/67) is higher than extrapulmonary alone (2,35%) and high mortality in these patients 92,86% (13/14), specially numbers of AFB(+) forms found 65,67% (44/67), the most in the diffuse interstitial infiltrate or miliary pattern. The clinical related HIV infection occurred high frequently (prolonged fever, wasting or weight loss, chronic diarrhoea, dermo-oropharyngeal candidiasis, cutaneous ulceration...).
Mean CD4-T lymphocyte counts in the HIV infected patients with tuberculosis is 136,28/mm3 and mean CD4-T lymphocyte counts in the disseminated tubercolosis is 94.4/mm3.
Sự tương tác giữa dịch bệnh do virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và bệnh lao đã từng được ghi nhận ở các nước phát triển và đang phát triển(9, 24). Lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội xảy đến sớm, thừơng gặp và có nguy cơ tử vong cao ở bệnh nhân HIV (3). Theo tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), lao tiến triển là một trong những tiêu chí chẩn đoán xác định hội chứng suy giảm miển dịch mắc phải (AIDS).
Những biểu hiện lâm sàng của lao ở bệnh nhân nhiễm HIV rất khác nhau và phụ thuộc chủ yếu vào mức độ suy giảm miễn dịch của bệnh nhân. Ở giai đoạn HIV tiến triển nặng thì bệnh cảnh lâm sàng lao thường biểu hiện ở dạng lan tỏa, tổn thương lan rộng và thường gặp là lao ngoài nang phổi hơn là lao phổi(1,10).
Việc chẩn đoán lao ở bệnh nhân nhiễm HIV có thể gặp nhiều khó khăn do tần suất lao ngoài phổi cao, xét nghiệm đàm trực tiếp thường âm tính và hình ảnh tổn thương trên X quang phổi thường là không điển hình và thay đổi rất nhanh.
Do đó ở những khu vực, có số mới mắc và hiện mắc lao cao, nhiều trường hợp lao/HIV(+) có thể không được ghi nhận(5).
Mục đích nghiên cứu này nhắm xem xét mối tương quan có ý nghĩa có thể quan sát được dựa trên các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh Xquang phổi khác nhau và số lượng CD4 ở bệnh nhân lao/HIV(+).
Ðối tượng: 85 bệnh nhân lao/HIV(+) trên 15 tuổi, thu dụng điều trị lao từ 1997 đến 1999 tại một số quận huyện TP. HCM (chọn ngẫu nhiên) và tại bệnh viện Trung Tâm Giáo Dục Dạy Nghề Bình Triệu.
Tiêu chuẩn chẩn đoán lao theo khuyến cáo của TCYTTG.
AFB(+) = có vi khuẩn kháng cồn toan trong đàm qua soi kính hiển vi (sau khi nhuộm bằng kỹ thuật Ziehl-Nielsen).
Lao phổi AFB(+): có ít nhất 2AFB(+) hoặc 1 AFB(+) và một phim Xquang phổi có tổn thương lao phổi tiến triển.
Lao phổi AFB(-): có ít nhất 2AFB(-) (tốt nhất là 3AFB(-) và 1 X quang phổi có tổn thương lao tiến triển, sau khi không đáp ứng điều trị với kháng sinh phổ rộng.
Lao ngoài phổi dựa vào các dữ kiện lâm sàng với sự hỗ trợ của Xquang, mô học, tế bào học của sinh thiết và của chọc hút bệnh phẩm xác định là lao.
Tất cả bệnh nhân là bệnh nhân lao mới, chưa được điều trị lao.
Bệnh nhân được chẩn đoán HIV (+) qua 2 test Elisa với 2 kháng nguyên khác nhau (theo khuyến cáo của TCYTTG).
Ðếm số lượng tuyệt đối CD4/mm3 bằng kỹ thuật dòng chảy với hệ thống đếm miễn dịch huỳnh quang tự động.
Xem xét mối liên quan giữa số lượng CD4 với các đặc điểm lâm sàng và các hình ảnh Xquang phổi chụp trước điều trị dựa trên các tổn thương: thâm nhiễm nhu mô phổi có hang, thâm nhiễm không tạo hang, tràn dịch màng phổi, hạch rốn phổi hoặc hạch trung thất, thâm nhiễm mô kẽ hoặc kê 2 phổi, thâm nhiễm nhu mô phổi có hạch rốn phổi hoặc hạch trung thất hoặc có tràn dịch màng phổi.
Phân tích thống kê: Các dữ liệu thu thập được xử lý bằng chương trình MS. EXCEL, phân tích thống kê các kết quả với mức ý nghĩa thống kê p<0,05.