BÀN LUẬN

Sử dụng kỹ thuật EITB và sinh thiết để đánh giá kỹ thuật ELISA trên 73 mẫu huyết thanh của những bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ấu trùng sán dải heo cho thấy kỹ thuật ELISA có độ nhạy 96,7%, độ đặc hiệu làø 95,2% (nếu các trường hợp không rõ cho là dương tính) hoặc 100% (nếu các trường hợp không rõ cho là âm tính). Dựa trên dữ kiện 158 mẫu huyết thanh thử nghiệm, kỹ thuật ELISA có độ nhạy là 96,7% và độ đăc hiệu là 96,8% (nếu các trường hợp không rõ cho là dương tính) hoặc 99,2% (nếu các trường hợp không rõ cho là âm tính)

Với kỹ thuật ELISA, sự khác nhau về điều chế kháng nguyên như kháng nguyên được điều chế từ các loài sán khác nhau(6), kháng nguyên thô, kháng nguyên tinh khiết; kháng nguyên từ ấu trùng, kháng nguyên từ dịch trong nang ấu trùng sẽ cho những độ nhạy và độ đặc hiệu khác nhau khác nhau(11). Chúng tôi thấy rằng khi dùng dịch chất từ nang ấu trùng để điều chế kháng nguyên sẽ có độ nhạy cao hơn khi dùng các thành phần khác của ấu trùng sán làm kháng nguyên. Ðiều này cũng phù hợp với nhận xét của nhiều tác giaû(9).

EITB đặc hiệu hơn ELISA vì trong kỹ thuật ELISA dùng kháng nguyên thô để làm phản ứng, trái lại với kỹ thuật EITB thì kháng nguyên được phân tích thành các băng protein và kháng thể sẽ kết hợp với từng băng protein đặc hiệu. Từ dịch chất ấu trùng sán dải heo với kỹ thuật EITB đã phân chia thành 7 băng protein với trọng lượng phân tử từ 13.000 Dalton đến 50.000 Dalton. Sau đó protein được chuyển qua giấy nitrocellulose. Những huyết thanh của bệnh nhân mắc bệnh ấu trùng sán dải heo tác dụng ít nhất 1 trong các băng này, chúng tôi thấy đa số các huyết thanh tác dụng ở 2 băng có trọng lượng phân tử 14.3000 Dalton và 21.500 Dalton, trong khi những huyết thanh của những bệnh khác thì không. Do đó độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao từ 98% - 100%.

      Trường hợp ngoại lệ là khi ấu trùng khi đã hóa vôi thì kỹ thuật ELISA âm tính vì khi hóa vôi lúc này kháng thể không còn sinh ra nữa. Nếu loại trừ trường hợp này, độ nhạy của kỹ thuật ELISA sẽ là 100%. Wilson và cs cũng thấy rằng nếu ấu trùng sán dải heo ở não nếu chỉ có 1 nang đơn độc thì kết quả EITB chỉ dương tính trong 28% bệnh nhân(14). Kết quả nghiên cứu để tìm phản ứng chéo với các ký sinh trùng khác thấy kỹ thuật ELISA có chéo với huyết thanh Entamoeba histolytica với tỷ lệ thấp (1 trong 9 mẫu tỉ lệ 11%). Vả lại vì Entamoeba histolytica và bệnh ấu trùng sán dải heo có dấu hiệu lâm sàng và dịch tễ học khác nhau giúp ta chẩn đoán phân biệt. Các mẫu huyết thanh của những bệnh nhân nhiễm ky ùsinh trùng khác kết quả ELISA đều âm tính. Theo kết quả nghiên cứu của Ito và cs cho thấy có phản ứng chéo giữa bệnh ấu trùng sán dải heo và Echinococcus(8). Với 52 mẫu huyết thanh người bình thường có 51 mẫu âm tính, 1 mẫu kết quả ELISA không rõ, và trong 73 mẫu huyết thanh nghi ngờ mắc bệnh ấu trùng sán dải heo có 2 trường hợp kết quả ELISA không rõ. Theo chúng tôi, trong một số trường hợp kết quả ELISA không rõ, mơ hồ khó xác định dương tính hay âm tính nếu bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng được coi là âm tính. Trong những trường hợp như vậy nên làm lại thử nghiệm sau vài tuần để có thể phát hiện kháng thể thay đổi trong huyết thanh nếu có ấu trùng sán dải heo.

Như vậy kỹ thuật ELISA có độ nhạy và độ đặc hiệu tuy không bằng EITB nhưng đó là kỹ thuật đáng tin cậy, thực hiện nhanh, không cần những trang thiết bị đắt tiền, có thể thực hiện ở những phòng thí nghiệm nhỏ và đây là thử nghiệm rẻ tiền có ích góp phần trong chẩn đoán xác định bệnh ấu trùng sán dải heo. Feldman và cs. so sánh kết quả EITB và ELISA thì kết quả của 2 kỹ thuật này tương đương và cho rằng ở những vùng dịch ELISA rất có ích(5).

Tuy nhiên vẫn còn nhiều câu hỏi được đặt ra mà kỹ thuật ELISA chưa trả lời được. Trường hợp nào với kết quả ELISA xác định được rằng bệnh nhân đó nhiễm nhiều nang hoặc ít nang, phải chăng căn cứ hiệu giá kháng thể của phản ứng? Với kết quả ELISA dương tính, căn cứ vào hiệu giá có thể xác định đó là bệnh mới mắc hay bệnh mãn tính? ELISA dương tính với hiệu giá nào ta có thể xác định bệnh ấu trùng sán dải heo trong giai đoạn tiến triển hay đang trong giai đoạn thoái hóa? Ðây là những vấn đề sẽ nghiên cứu trong thời gian tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        Baily GG, Cysticercosis, Manson,s Tropical Disease, W B Saunder Company Ltd, 1996: 1501-1516

2.        Baker DG, Bryant JD, Urban JF Jr, Lunney JK, Swine immunity to selected parasites., Vet-Immunol-Immunopathol, 1994 Oct., 43(1-3): 127-133.

3.        Cedric Mims, John Playfair, Ivan Roitt, Derek Wakelin, Rosamund Williams, Central Nervous System Infection: CNS Disease Due to Helminth Parasites, Medical microbiology, Mosby, London Philadelphia St Louis Sydney Tokyo, Second Edition, 1998: 309-310.

4.        Euzeby J, The fate of parasites of animal origin transmitted to humans, Med-Trop-Mars. 1997., 57(3 Suppl): 16-22.

5.        Feldman M, Plancarte A, Sandoval M, Wilson M, and Flisser A, Comparison of two essay (ELISA angd EITB) and two samples (saliva and serum) for the diagnosis of neurocysticercosis, Trans. R. Soc. Trop. Med. Hyg., 84, 1990: 559-562.

6.        Garcia Allan C, Martinez N, Flisser A, Aluja A, Allan JC, Craig PS, Immunocharacterization of Taenia solium oncosphere and metacestode antigens, J - Helminthol., 70(4), Dec 1996: 271-280

7.        Hoefer, Protein electrophoresis applications guide. Hoefer Scientific Instruments, 1994: 18-30.

8.        Ito A, Ma L, Itoh M, Cho SY, Kong Y, Kang SY, Horii T, Pang XL, Okamoto M, YamashitaT, Lightowlers MW, Wang XG, Liu YH, Immunodiagnosis of alveolar echinococcosis by enzyme-linked immunosorbent assay using a partially purified Em18/16 enriched fraction, Clin-Diagn-Lab-Immunol. 1997 Jan., 4(1): 57-59.

9.        Larralde C,. Laclette JP, Owen CS, Madrazo I, Sandoval M, Bojalil, Sciutto E, Contreras L, Arzate J,. Diaz M L, Govezensky T, Montoya RM, and Goodsaid G, Reliable serology of Taenia solium cysticercosis with antigens from cyst vesicular fluid: ELISA and hemagglutination tests. Am. J. Trop. Med. Hyg. 35, 1986: 965-973.

10.     Pittella-JE, Neurocysticercosis, Brain-Pathol. 1997 Jan., 7(1): 681-693.

11.      Salinas P, Sandov L, Rugiero E, Contreras MC, Diagnosis of human neurocysticercosis by ELISA - IgG using a purified antigen, Bol. Chil. Parasitol, 51(3-4), Jul - Dec 1996: 85-90.

12.     Trần Thị Kim Dung, Chẩn đoán một số bệnh ký sinh trùng bằng phương pháp huyết thanh miễn dịch men, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Y Dược, 1995.

13.     Trần Xuân Mai, Trần Thị Kim Dung, Ngô Hùng Dũng, Lê Thị Xuân, Sán dải heo, Ký sinh trùng y học, Nhà xuất bản Ðà Nẳng, 1999: 228-231.

14.     Wilson M, Bryaan RT, Fried JA, Ware DA, Schantz PM, Pilcher JB, and Tsang CW, Clinical evaluation of the enzyme - linked -immunoelectrotransfer blot in patients with neuro cysticercosis, J. Infect.Dis. 164, 1991: 1007-1009.