Phan Anh Tuấn*, Trần Thị Kim Dung*
Kỹ thuật ELISA với kháng nguyên được điều chế tại Bộ môn Ký Sinh học đã được thực hiện trên 158 mẫu huyết thanh để phát hiện kháng thể của bệnh ấu trùng sán dải heo gồm 73 mẫu huyết thanh của những bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ấu trùng sán dải heo, 52 mẫu huyết thanh của những người khỏe mạnh, 33 mẫu huyết thanh của những người nhiễm các loại ký sinh trùng khác. Ba trong số 73 bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ấu trùng sán dải heo có u nhỏ dưới da được chẩn đoán mắc bệnh ấu trùng sán dải heo bằng sinh thiết. Kết quả ELISA của 3 mẫu huyết thanh từ các bệnh nhân này là 2 dương tính và 1 âm tính giả. Các mẫu huyết thanh của 70 bệnh nhân còn lại được sử dụng cả 2 kỹ thuật ELISA (enzyme - linked immunosorbent assay) và EITB (enzyme - linked immunoelectrotransfer blot) để tìm kháng thể của bệnh ấu trùng sán dải heo. 28 trong số 70 mẫu huyết thanh dương tính trong cả 2 kỹ thuật EITB và ELISA; 40 mẫu đều âm tính cả 2 kỹ thuật EITB và ELISÀ; 2 mẫu kết quả ELISA không rõ, EITB âm tính. Trong 52 mẫu huyết thanh của những người khỏe mạnh kết quả EITB đều âm tính, kết quả ELISA có 51 âm tính, 1 kết quả không rõõ. Với 33 mẫu huyết thanh của những người nhiễm ký sinh trùng khác kết quả EITB đều âm tính, kết quả ELISA có 32 âm tính, 1 dương tính giả. Kháng nguyên được điều chế tại Bộ môn Ký Sinh học dùng trong kỹ thuật ELISA thử nghiệm 158 mẫu huyết thanh có độ nhạy 96,7% và độ đặc hiệu 99,2% (khi những mẫu kết quả ELISA không rõ cho là âm tính) hoặc 96,8% ( khi những mẫu kết quả ELISA không rõ cho là dương tính).
Evaluation
of Enzyme-Linked Immunoassay
for The Diagnosis of Human Cysticercosis
Phan Anh Tuan, Tran Thi Kim Dung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 5 - No 1 - 2001: 20-24
The ELISA with antigen produced by Department of Parasitology - University of
Medicine and Pharmacy in Ho Chi Minh City was performed on 158 serum samples;
73 from patients suspected of having cysticercosis, 52 from healthy persons,
33 from patients who infected other parasites. Three of these 73 patients
suspected of having cysticercosis were proved to be infected Taenia solium by
biopsy. The ELISA result for these 3 serum samples was 2 positive and 1 false
negative. All of the 70 other specimens were tested both by ELISA
(enzyme-linked immunosorbent assay) and EITB (enzyme-linked
immunoelectrotransfer blot). Twenty-eight of the 70 serum samples from
patients suspected of having cysticercosis were positive by both ELISA and
EITB. Forty were negative by both assays. Two serum samples that were
considered equivocal results by ELISA were EITB negative. One of the 52 serum
samples from healthy persons was considered equivocal result by ELISA, the
EITB result was negative (all of other serum samples were EITB and ELISA
negative). One of the 33 serum samples from patients who infected other
parasites was considered false positive (all of these serum samples were EITB
negative). Considering all 158 specimens, the ELISA had sensitivity of 96.7%.
The specificity was 99.2% (when serum samples with equivocal results were
considered negative) or 96.8% (when serum samples with equivocal results were
considered positive).
Bệnh ấu trùng sán dải heo là bệnh nhiễm bởi ấu trùng sán dải heo do nuốt trứng. Thực tế sán dải heo trưởng thành ký sinh ở ruột không gây tác hại bao nhiêu ngoài rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh, không gây chết người(13).
Sự hiện diện ấu trùng của sán dải này ở người nguy hiểm hơn nhiều vì ấu trùng thường ký sinh ở hệ thần kinh, tạng phủ có thể gây chết người(1). Trong cơ thể người ấu trùng sán dải không trưởng thành: ấu trùng đi vào ngõ cụt(4).
Cách nhiễm bệnh: Người có thể tình cờ nhiễm ấu trùng sán dải heo theo 2 cách:
- Nuốt trứng có phôi vì ăn nhằm thức ăn hay uống nước vấy bẩn, hoặc sờ tay dơ vấy phân có trứng đưa vào miệng.
- Tự nhiễm: bình thường những đốt già sán dải heo theo phân ra ngoài. Ðôi khi có một vài đốt già sau khi tách rời khỏi thân sán được đưa lên dạ dày bởi nhu động ruột sau đó dịch vị làm tan rã đốt, trứng phóng thích phôi. Trường hợp tự nhiễm phôi lan tràn trong cơ thể cao và gây nhiễm nặng(3).
Bệnh ấu trùng
sán dải heo phổ biến rộng khắp thế giới nhưng phụ thuộc vào
tập quán ăn uống, tình hình vệ sinh công cộng. Nơi nào quản
lý phân không tốt, sử dụng phân người để bón rau, thả
heo rong, ăn thịt nấu không chín thì tỉ lệ mắc bệnh cao. Những
nơi không ăn thịt heo như những nước theo đạo Hồi Giáo ở
vùng Bắc Phi rất hiếm mắc bệnh. Bệnh thường gặp ở nhiều
nơi trên thế giới đặc biệt ở Châu Á như Ấn Ðộ, Trung
Quốc, Indonesia; Châu Phi; Châu Mỹ La tinh như Bolivia, Ecuadoe, Peru,
Mexico, và một số nước ở Châu Âu như Bồ Ðào Nha, Tây
Ban Nha và những nước Ðông Âu(10). Bệnh cũng đã
xuất hiện ơ ûcác nước đã phát triển vì dân nhập cư từ
vùng dịch hoặc từ vùng dịch trở về cũng có thể bị mắc
bệnh(2).
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nhiệt độ và độ ẩm môi trường thường cao. Ðiều
kiện vệ sinh môi trường kém, xử lý chất thải của người và vật nuôi chưa hợp vệ sinh. Trong cộng đồng dân cư vẫn còn thói quen ăn thức ăn chưa nấu chín nhất là những món có nguồn gốc từ thịt heo như nem chua, nem chạo, tiết canh. Ðó là những điều kiện tốt để bệnh sán dải heo và bệnh ấu trùng sán dải heo phát triển. Theo kết quả điều tra thuộc Viện Ký sinh trùng Sốt rét thì tỷ lệ nhiễm sán dải heo ở vùng đồng bằng là 2% vùng trung du và miền núi là 6% dân số còn bệnh ấu trùng sán dải heo đã gặp nhiều trong lâm sàng(13).
Ngoại trừ trường hợp bệnh ấu trùng sán dải heo ở dưới da chẩn đoán bằng sinh thiết, bệnh ấu trùng sán dải heo ở nội tạng chẩn đoán khó, có thể dựa vào biểu hiện lâm sàng, dịch tễ, và các phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh như CT scanner, MRI là những phương pháp chẩn đoán khá chính xác. Tuy nhiên vì giá cao nên khó khăn đối với bệnh nhân nghèo. Xu hướng ngày nay là dùng phương pháp chẩn đoán huyết thanh học. Trong những năm qua chúng tôi đã điều chế kháng nguyên từ nang ấu trùng sán dải heo để sử dụng trong kỹ thuật ELISA chẩn đoán bệnh ấu trùng sán dải heo.
Chúng tôi đánh giá độ chính xác của kỹ thuật này bằng cách dùng những mẫu huyết thanh từ những người khỏe mạnh, những bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ấu trùng sán dải heo và các mẫu huyết thanh của những người bị nhiễm các loại ký sinh trùng khác. Kết quả của kỹ thuật này được so sánh với kết quả sinh thiết hoặc kỹ thuật EITB coi như tiêu chuẩn vàng