Bệnh án 3: 77BH/99

Nguyễn Thị Kim Ð., 43 tuổi, nữ, Ðắc Lắc, nhập viện ngày 8/1/99 vì hủy xương chày (T).

Bệnh sử 3 tháng trước nhập viện bị đụng xe honda, được chẩn đoán nứt xương chày và bó bột. Sau khi cắt bột, thấy cẳng chân sưng nhiều nên chuyển TT CTCH. Tiền căn bị sạn thận. LS: u vùng tuyến giáp 2 cm. XQ: hủy thân xương chày (T), hủy thân xương đùi (P) và xương sườn 4(T). Xét nghiệm: canxi máu bình thường 4,5 và 5 mEq/l; tăng phosphatase axít 6,4 u/l; tăng phosphtase kiềm 617u/l. Chẩn đoán LS-XQ: Theo dõi carcimôm di căn xương nghĩ từ tuyến giáp. Sinh thiết xương chày 8/1/99 thấy có xuất huyết và tăng sinh nhiều đại bào đa nhân, nghĩ đến cường tuyến cận giáp (số 376 YK). Ngày 21/1/99 nạo u xương chày + đóng đinh nội tủy + ghép xương, hình ảnh GPB như lần trước (số 737 YK). Xét nghiệm máu thấy tăng canxi 6,72mEq/l và tăng mạnh phosphatase kiềm 1770 đv. Ngày 25/3/99 cắt u tuyến cận giáp (P) 3 cm. Chẩn đoán GPB 2321 YK: U lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính.

                    

Bệnh án 4: 296BH/99

Ðoàn Thị Kim E., 32 tuổi, nữ, Long An, nhập viện ngày 28/6/99 vì đau xương toàn thân và đi đứng khó. LS: đau nhức các xương-khớp 4 năm, lùn đi 4cm, răng bị thâm đen. Gãy đầu dưới xương quay cách 2,5 năm. Khám và siêu âm nhiều lần không phát hiện u tuyến cận giáp. Xét nghiệm: canxi máu tăng (5,5 mEq/l), phospho/máu bình thường. XQ: hủy xương toàn thân, xẹp các thân đốt sống và gãy "mệt" thân xương đùi 2 bên. MRI thấy u cực dưới tuyến giáp (T) nghĩ u tuyến cận giáp. Tháng 7/99, mổ cắt u tuyến cận giáp 2 cm. Chẩn đoán GPB (3493-99BD): U lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính.

Bệnh án 5: 197BH/00

Trần kim L., 42 tuổi, nữ, TP Hồ Chí Minh, nhập viện ngày 28/03/00 do BV Bình Dân chuyển với chẩn đóan "u xương chày". LS: u đầu trên xương chày từ 1 năm, lớn chậm, gây đau. U giới hạn không rõ, chắc. XQ: hủy xương kiểu khối ở vùng đầu thân trên xương chày (P), 2,5x4x5cm, kèm phản ứng xương đặc, hủy vỏ xương. Có hình ảnh loãng xương lan tỏa, vẹo cột sống. XN thấy tăng Ca/m 5,8mEq/l, tăng phosphatase kiềm. Xạ hình xương: điểm nóng ở xương sọ, đầu dưới xương đùi 2 bên và đầu trên xương chày (P). Chẩn đoán LS-XQ nghĩ đến u xương chày do ung thư di căn. Sinh thiết 03/04/00 số HS 704-00 cho thấy có tăng sinh đại bào đa nhân và mô sợi lành tính, nghĩ đến do u tuyến cận giáp. Siêu âm vùng cổ cho thấy có u tuyến cận giáp (T) 26x12mm, sỏi thận (P) 7mm. Mổ cắt u tuyến cận giáp tháng 04/00. Chẩn đoán GPB 1786BD-00: U lành tuyến cận giáp. Tái khám tháng 10/01 thấy có tái tạo xương lấp đầy tổn thương hủy xương đầu trên xương chày, bệnh nhân đi đứng bình thường.

Bệnh án 6: 566BH/00

Vũ Văn K., 48 tuổi, TP Hồ Chí Minh, nhập viện ngày 26/09/00 với hủy xương nhiều nơi. Khởi bệnh 4 năm, điều trị nội khoa không bớt, giảm chiều cao 6cm. LS chân phải ngắn hơn trái 3cm, tuyến giáp không sờ thấy khối u. XQ: loãng xương toàn thân, xẹp thân đốt sống và hủy xương nhiều nơi (xương sọ, sống, sườn, chậu, đùi, bàn tay...), nghĩ đến do u tuyến cận giáp hoặc do ung thư di căn. XN thấy tăng Ca++/máu 5mM. Siêu âm thấy có u tuyến cận giáp và sạn thận (T). MRI: u tuyến cận giáp cực dưới, bên trái. Ðo mật độ xương bằng máy DEXA thấy loãng xương ở xương sống thắt lưng (Tscore: -3,59) và thiếu xương ở mấu chuyển xương đùi (Tscore: -1,72). Sinh thiết ngày 05/10/00 số HS 1601-00 ở 2 xương bàn tay cho thấy đại thể mô bệnh màu nâu giống của u đại bào , vi thể tăng sinh đại bào đa nhân kèm mô sợi, xuất huyết nghĩ do u tuyến cận giáp. Mổ cắt u 10/00, chẩn đoán GPB (5662BD-00): phân vân giữa ung thư và u lành tuyến cận giáp. Tái khám 10/2001, bệnh nhân tổng trạng tốt, hết đau nhức xương, XQ có tái tạo xương ở bàn tay và các xương khác.

KẾT QUẢ

Tuổi - Giới

5 nữ-1 nam; tuổi từ 25 đến 48.

Ðại thể

Khối u giới hạn rõ, có vỏ bao sợi, mặt cắt đặc, kích thước 1,5-3 cm.

Vi thể

U lành tuyến cận giáp (4 t.h.):

Không đa dạng, dị dạng tế bào ; không thấy hình ảnh phân bào , không có mỡ trong mô u. Phân loại gồm : 3 u lành loại tếù bào chính và 1 loại tế bào ái toan :

(1) Trần Thị Bích H. (5811 /85 YK) : Mô u cấu tạo bởi tăng sinh các tế bào đa diện, nhân tròn nhỏ, bào tương lớn ái toan, xếp thành đám bao quanh bởi vách mô sợi-mạch máu mỏng. Bên cạnh có mô tuyến cận giáp bình thường với các tế bào chính nhân tròn nhỏ và có nhiều mô mỡ. Chẩn đoán GPB: U lành tuyến cận giáp, loại tế bào ái toan.

(2) Nguyễn Thị Kim Ð.(2321 /99YK) : Mô u gồm tăng sinh 2 loại tế bào bào tương hồng và bào tương sáng với tỷ lệ bằng nhau. Mô tuyến bình thường bị teo nhỏ, nằm rải rác trong mô mỡ. Chẩn đoán GPB: U lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính (với 50% là tế bào sáng).

(3) Ðoàn Thị Kim E. (3493 /99BD) : Mô u tăng sinh loại tế bào sáng. Chẩn đoán GPB: U lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính (tất cả là tế bào sáng).

(4) Trần Kim L. (BD) : Mô u tăng sinh loại tế bào sáng. Chẩn đoán GPB: U lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính.

U lành hay ung thư tuyến cận giáp 2 t.h.):

(1) Trần Thị N. (K223 /98) : Mô u gồm tăng sinh các tế bào đa diện, nhân tròn nhỏ, bào tương sáng xen lẫn một ít tế bào có bào tương hồng. Có một số tế bào lớn hơn các tế bào khác, nhân đậm màu nhưng không dị dạng. Các tế bào u có khuynh hướng xếp thành đám hoặc thành nang. Mô tuyến bình thường bị ép dẹt bên ngoài với các tế bào nhỏ hơn, nhân tròn, bào tương hồng. Ranh giới giữa mô bình thường và mô u rất rõ.

Chẩn đoán GPB: phân vân giữa carcimôm và u lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính (với đa số là tế bào sáng). Tuy tế bào u có một số tế bào nhân lớn nhưng qua 3 năm theo dõi thấy kết quả điều trị tốt và đại thể u có giới hạn rõ, nên có thể loại bỏ chẩn đoán ung thư.

(2) Vũ Văn K. (5662/00): Mô u gồm tăng sinh các tế bào đa diện, nhân tròn nhỏ, bào tương sáng, đôi khi hồng. Có nhiều tế bào lớn hơn các tế bào khác, nhân đậm màu nhưng không dị dạng. Các tế bào u có khuynh hướng xếp thành đám hoặc thành nang. Mô tuyến bình thường bị ép dẹt bên ngoài với các tế bào nhỏ hơn, nhân tròn, bào tương hồng. Ranh giới giữa mô bình thường và mô u ất rõ.

Chẩn đoán GPB: phân vân giữa ung thư và u lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính (với đa số là tế bào sáng).

Tuy nhiều tế bào u nhân lớn nhưng sau 1 năm thấy kết quả điều trị tốt và đại thể u có giới hạn rõ, nên nghĩ nhiều đến chẩn đoán u lành hơn là ung thư.

Tổn thương xương

Các tổn thương xương gặp trong 6 trường hợp kể trên là :

- 5 có loãng xương toàn thân, hủy xương dưới màng xương, giảm chiều cao

- 4 có xẹp thân đốt sống

- 3 có hủy xương "giả u" (u nâu), hủy xương đầu ngón, tiền căn bị gãy xương

- 2 có gãy xương "mệt", vẹo xương sống

- 1 có biến dạng cong ở chi dưới

Như vậy bệnh lý xương do u lành tuyến cận giáp gồm 2 nhóm chính :

(1) Loãng xương toàn thân: gây đau nhức xương, mỏi cơ, đi đứng khó khăn, biến chứng gãy xương, gãy xẹp thân đốt sống dẫn đến giảm chiều cao, gãy xương "mệt", biến dạng xương chân...

(2) Hủy xương thành khối lớn, giả u xương hay còn gọi là u nâu: tổn thương hủy xương, hủy vỏ xương tạo thành bọc. Ðại thể không thấy mô u dạng não hay dạng "thịt" mà thấy có nhiều máu tụ. Vi thể thấy hình ảnh ổ máu tụ, xuất huyết cũ và mới, tăng sinh nhiều đại bào giống đại bào hủy xương.

Tổn thương khác

Mệt mỏi (3 t.h.), sạn thận (2 t.h.), giảm trí nhớ (1 t.h.)...

Ðiều trị

Cắt u tuyến cận giáp phối hợp với điều trị canxi liều cao và Rocaltrol liều cao.

Diễn tiến của bệnh sau điều trị :

Tổng trạng

- Co giật, co cứng cơ : không gặp

- Tê đầu chi: còn tồn tại trong 6 tháng đầu

- Sức khỏe cải thiện rõ, ăn ngon, ngủ được, giảm đau nhức cơ-xương-khớp

Thay đổi về tổn thương xương :

- Loãng xương, thiếu xương: không thay đổi trên phim XQ qui ước sau 9 tháng dù rằng bớt đau nhức chỉ sau 3 tháng.

- U nâu ở xương chày: có can xương, đường viền xương đặc xuất hiện sau 2 tháng, tạo lại vỏ xương sau 6 tháng.

- Gãy "mệt" thân xương đùi: có can xương ít sau 3 tháng theo dõi nhưng bệnh nhân đi hết đau, không cần nạng.