U TUYẾN CẬN GIÁP: NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU BỆNH 6 TRƯỜNG HỢP

Lê Chí Dũng*, Trần Minh Thông**, La Chí Hải***

Tóm Tắt

6 trường hợp u tuyến cận giáp ở giai đoạn trễ phát hiện tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình. Bệnh nhân gồm 5 nữ và1 nam. Chẩn đóan giải phẫu bệnh thực hiện dễ dàng cho 4 trường hợp u lành tuyến gồm 3 u lành tế bào chính và 1 u lành tế bào ái toan. Hai trường hợp khác có bất thường về tế bào nên phân vân không biết là lành hay ác. Ðặc điểm đại thể trong khi mổ và qua thời gian theo dõi giúp nghĩ đến đây là những trường hợp u lành tính.

Summary

Tumor of parathyroid glands: histopathologic study on 6 cases

Le Chi Dung, Tran Minh Thong, La Chi Hai
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of Pathology - Vol. 5 - Supplement of No 4 - 2001: 51 - 57

Six parathyroid tumors at the late stage were detected at the Center for Traumatology and Orthopaedics, Hochiminh City. There were 5 female and 1 male patients. The histopathologic diagnosis was easily made in 4 benign tumors including 3 chief cell and 1 oxyphil cell adenomas. There were cellular atypia in 2 other cases, so the diagnosis were undecided. The macroscopic characteristics during operation and the outcome favor the diagnosis of adenomas.

ÐẶT VẤN ÐỀ

 U tuyến cận giáp rất hiếm gặp(1,3,5,6,8,9,11). Bệnh cảnh lâm sàng (LS) thường là mệt mỏi, bệnh lý xương và sạn thận .Chẩn đoán dễ nếu sờ thấy khối u vùng tuyến cận giáp và được xác định bằng giải phẫu bệnh (GPB). Nhiều trường hợp rất khó chẩn đóan vì LS không sờ thấy u, hình ảnh học y khoa (HAH) và các xét nghiệm sinh hóa (XN) có độ chính xác chưa cao. Nghiên cứu u tuyến cận giáp nhằm 3 mục tiêu:

1. Mô tả hình ảnh vi thể

2. Xác định tiêu chuẩn lành / ác

3. Ðối chiếu LS-XN-HAH-GPB

1) Chẩn đoán GPB được thực hiện với các tiêu bản cắt vùi nến và nhuộm hematoxylin-eosin.

2) Ðối chiếu LS, XN, HAH và GPB các bệnh lý do u tuyến cận giáp.

TƯ LIỆU-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tư liệu

Gồm 6 trường hợp u tuyến cận giáp trong 15 năm được điều trị tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình (TT CTCH) TP Hồ Chí Minh.

Bệnh án 1: 8731/85

 Trần thị Bích H.,25 tuổi, nữ, TP Hồ Chí Minh, nhập viện ngày 10/9/85 với đau nhức các xương và mỏi lưng từ 1 năm, giảm chiều cao 4 cm. LS: u cực dưới tuyến giáp (P) 1,5 cm. XQ: loãng xương toàn thân và xẹp các thân đốt sống. Canxi máu tăng 6mEq/l.

Chẩn đoán LS-XQ: Loãng xương toàn thân do u tuyến cận giáp. Ngày 11/10/85 phẫu thuật cắt u tuyến cận giáp có kích thước 1,5 cm. Chẩn đoán GPB 5811 YK: U lành tuyến cận giáp, loại tế bào ái toan. (hình 1)

                    

                                                                   

Bệnh án 2: 49 BH/98

Trần Thị N., 34 tuổi, nữ, Ðồng Nai, nhập viện ngày 8/1/98. LS: đau 2 gối từ hơn 1 năm, gãy xương đòn cách 7 tháng. Mệt mỏi nhiều, đau lưng và các khớp, giảm chiều cao 5 cm. Gù và vẹo cột sống, yếu tứ chi. Khám không thấy có u tuyến giáp và cận giáp. XQ: loãng xương toàn thân và sỏi thận. Siêu âm và hình ảnh MRI không phát hiện u tuyến cận giáp. XN thấy Canxi máu tăng 6,5 mEq/l. Chẩn đoán LS-XQ: Loãng xương toàn thân, nghĩ đến u tuyến cận giáp. Siêu âm lần 4 thấy có u tuyến cận giáp (!). Mổ 12/98 cắt bỏ khối u 1,5 cm ở cực dưới thùy trái tuyến giáp. Chẩn đoán GPB K223 : Phân vân giữa ung thư và u lành tuyến cận giáp, loại tế bào chính. (hình 2).

Sau mổ bệnh nhân được điều trị bằng Canxi + Rocaltrol, đáp ứng tốt.