Hà Văn Phước*
Sinh thiết da từ 30 bệnh nhân thể phong bất định (HI) được nghiên cứu về mô bệnh lý. Biểu hiện lâm sàng rất thường nhất của thể I là dát giảm sắc tố. Trong tất cả các trường hợp thì có khoảng 5-10% diện tích mô bì bị thâm nhiễm bởi tế bào viêm. Các tuyến mồ hôi bị tổn thương trong 2/3 các trường hợp và gần 1/3 mẫu sinh thiết cho thấy có liên quan đến nang lông tuyến bã. Gần 70% các trường hợp có liên quan đến thần kinh bì với sự thâm nhiễm ra ngoài sợi thần kinh và 33% các trường hợp cho thấy các tổn thương của lớp thượng bì.
pathological
diagnosis
of indeterminate leprosy and Atipical leprosy
Hà Văn Phước
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of Pathology - Vol. 5 - Supplement of
No 4 - 2001: 79 - 82
Skin biopsies from 30 patients with indeterminate leprosy were studied histopathologically. The most common clinical manifestation was a hypopigmented macule. Five to ten percent of cases presented infiltration to the dermis. Sweat glands were involved in two thirds of the cases and approximately a thirds of the biopsies showed involvement of arrector pili muscle and pilosebaceous glands. Seventy percent cases had involvement of the dermal nerves with perineural infiltration. Thirty-three percent of the cases showed lesions of the epithelium
Hình ảnh mô học của tổn thương da sớm nhất trong bệnh phong là hình ảnh viêm da kinh niên không đặc hiệu, cũng được gọi là phong bất định. Ðây là vấn đề rất khó chẩn đoán xác định đối với bác sĩ giải phẫu bệnh lý. Ðặc biệt là trong các trường hợp được nghi ngờ là bệnh phong, thì chẩn đoán xác định dựa vào mô học rất quan trọng, vì nó không chỉ về mặt y tế mà nó còn có ảnh hưởng về mặt tâm lý và xã hội.
Bởi vì trong bảng phân loại của Ridley và JopLing không có đề ra các tiêu chuẩn mô học để xếp loại thể I, vì bản chất của nó chưa hình thành các phản ứng u hạt (granuloma) để hướng về cực T (phong củ) hoặc là cực L (Phong u), do đó có thể làm cho các bác sĩ giải phẫu bệnh bị giới hạn trong chẩn đoán xác định. Ở đây chúng tôi muốn trình bày một nghiên cứu về hình ảnh mô học của nhóm này.
30 trường hợp được sinh thiết da từ năm 1996 - 2000 tại bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh với chẩn đoán lâm sàng là thể I hoặc là nghi ngờ bệnh phong. Các mẫu sinh thiết đều được cắt mỏng 5 mm và nhuộm hématoxylin và Eosin (HE) và nhuộm AFB để tìm vi trùng. Mỗi vùng sinh thiết sẽ được đánh giá vùng diện tích mô bì bị thâm nhiễm trên tổng số diện tích mẫu da.
Bảng I: Các biểu hiện lâm sàng của phong thể I (30 trường hợp).
|
|
Số các trường
hợp |
|
Số lượng các thương tổn da Một thương tổn > một thương tổn Ðặc điểm thương tổn da Dát giảm sắc tố Dát màu nâu lợt Thần kinh ngoại biên Thần kinh lớn Thần kinh không lớn Không xác định được |
10 20 28 02 05 10 15 |
30 trường hợp thì có 17 trường hợp là nam và 13 trường hợp là nữ, người nhỏ tuổi nhất là 15 và người lớn tuổi nhất là 58. Phần lớn đa số các trường hợp tổn thương ở da được mô tả về mặt lâm sàng là các dát giảm sắc tố, nó xảy ra chủ yếu ở chi và ít thường ở trên mặt và thân.
Sự phân bố của trực khuẩn trong tổn thương : trong 30 trường hợp được nghiên cứu thì chỉ có 2 trường hợp là có sự hiện diện trực khuẩn phong trong sang thương. Vi trùng chủ yếu trong các thần kinh bì
Bảng 2: Diện tích mô bì bị thâm nhiễm (30 trường hợp).
|
Tỷ
lệ % diện tích mô bì bị thâm nhiễm |
Số
trường hợp |
|
³
10% 5-10% 3,3
- 5,0% 2,5
- 3,3% £
2,5% |
5
(16,66%) 20
(66,66%) 03
(10%) 01
(3,33%) 01
(3,33%) |
Trong mỗi trường hợp vùng mô bì bị thâm nhiễm được đánh giá bằng kính hiển vi.
Hơn 80% ở các trường hợp có trên 5% diện tích bì bị thâm nhiễm. Sự thâm nhiễm từ 5% - 10% của các lớp bì thì rất thường gặp. Kể tất cả các trường hợp khoảng trung bình 5,3% diện tích mô bì bị thâm nhiễm.
Chúng tôi nhận thấy đa số các trường hợp các sang thương da có số lượng lớn hơn một về mặt lâm sàng (bảng I) có diện tích thâm nhiễm ở mô bì từ 5% trở lên.
Bảng 3: Các loại tế bào viêm thâm nhiễm. (30 trường hợp)
|
Loại tế bào
viêm |
Ðộ thâm
nhiễm |
||
|
+ |
++ |
+++ |
|
|
Ðại thực bào Tế bào dạng biểu mô Lympho bào |
25 05 05 |
05 15 10 |
10 15 |
Các mô bào (đại thực bào) và lympho bào là tế bào thâm nhiễm chủ yếu không đặc hiệu. Có 2 trường hợp một vài mô bào chuyển dạng thành các tế bào dạng biểu mô tương ứng với giai đoạn được gọi là tiền dạng củ của bệnh. Một trường hợp có rải rác của tương bào. Không trường hợp nào có bạch cầu nhân múi trung tính.
Bảng 4: Tổn thương các phần phụ của da
|
|
Số trường
hợp được quan sát |
Số trường
hợp bị ảnh hưởng |
|
Cơ dựng lông Không thay đổi Thâm nhiễm viêm |
20 |
12 08 |
|
Tuyến mồ hôi Không thay đổi Thâm nhiễm viêm |
25 |
05 20 |
|
Nang lông tuyến bả Không thay đổi Thâm nhiễm viêm Sợi hoá quanh nang lông |
30 |
13 15 02 |
Tổn thương các phần phụ của da như là teo và có sự sắp xếp lộn xộn cơ dựng lông và phần tuyến mồ hôi thường được tìm thấy. Ðôi khi có các mô sợi bao quanh nang lông tuyến bả xuất phát từ sự thâm nhiễm (sự sợi hoá). Mức độ của sự thâm nhiễm hiện diện thay đổi theo sự khác nhau của các phần phụ của da. Sự thâm nhiễm bao quanh tuyến mồ hôi thường như được thấy, các cơ dựng lông bị ảnh hưởng khoảng 1/3 các trường hợp. Số lượng tế bào thâm nhiễm bao quanh tuyến mồ hôi nhiều hơn cơ dựng lông, tuy nhiên sự thay đổi này không có ý nghĩa.
Bảng 5: Tổn thương thần kinh bì qua quan sát 30 trường hợp.
|
|
Số trường hợp có thần kinh bị ảnh hưởng |
|
Không thay đổi Thâm nhiễm bao quanh thần kinh + Phì đại tế bào Schwann + Sợi hoá quanh thần kinh |
4 (13,3%) 26 (86,66%) 22 (73,33%) 04 (13,33%) |
Các thần kinh da nhỏ trong mô bì sâu trong vùng lân cận của tuyến mồ hôi, được tìm thấy với sự thay đổi lớn. Sự thay đổi rất thường là sự thâm nhiễm tế bào đơn nhân quanh perineurium (bao ngoài bó sợi thần kinh), có 3 trường hợp sự thâm nhiễm ở thần kinh là rõ nét, có một vài tế bào thâm nhiễm tìm thấy bên trong bó thần kinh, với sự mất trật tự của các sợi thần kinh bởi sự phù viền chu vi bao ngoài sợi thần kinh làm cho các tế bào không còn giới hạn rõ, có 8 trường hợp cho thấy có sự rối loạn đưa đến sự dày các thần kinh, 4 trường hợp cũng cho thấy có sự xơ hoá bao ngoài thần kinh với sự tạo thành mô liên kết hướng tâm bao quanh thần kinh bì. Sự thâm nhiễm bên trong các bó thần kinh thì luôn luôn kết hợp với sự thâm nhiễm bao quanh ngoài bó sợi thần kinh.
Bảng 6: Tổn thương lớp thượng bì (qua đánh giá 30 trường hợp).
|
|
Số trường hợp |
|
Không thay đổi Teo nhẹ Tăng sản thượng bì Sự hình thành hốc không bào |
20 (66,66%) 07 (23,33%) 00 03 (10%) |
10 trường hợp (33,33%) cho thấy lớp thượng bì bị ảnh hưởng. Các thương tổn này bao gồm teo nhẹ và sự hình thành các vacuole có thể hiện diện các thương tổn này trên cùng một mẫu sinh thiết.