GIÁ TRỊ CỦA CHẨN ÐOÁN SINH THIẾT TỨC THÌ
QUA NGHIÊN CỨU 1917 TRƯỜNG HỢP TẠI BỆNH VIỆN K HÀ NỘI

Ðặng Thế Căn*, Nguyễn Phi Hùng*, Hoàng Xuân Kháng*, Lê Ðình Roanh*,
Trịnh Quang Diện*, Tạ Văn Tờ*

TÓM TẮT

Giá trị của sinh thiết tức thì (STTT) qua nghiên cứu 1917 trường hợp tại BV K Hà Nội từ tháng 7 - 1996 đến tháng 7-2001. Trong y văn, kỹ thuật sinh thiết tức thì trước mổ đã có giá trị và chính xác cao. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá độ chính xác, độ đặc hiệu và độ nhạy cảm của kỹ thuật dựa trên hơn 1900 trường hợp tại bệnh viện K Hà nội trong 5 năm và phân tích các cạm bẩy chính trong việc đọc kết quả. Trong 1917 trường hợp, các sang thương, các sang thương vú chiếm 53,7% còn lại là tuyến giáp, hạch limphô và các cơ quan khác. Ðộ chính xác: 96,03%, độ nhạy: 94,3% và độ đặc hiệu: 97,9%. Các kết quả này cho thấy STTT là phương pháp tốt nhất và không chối cãi được trong phẫu thuật ung thư. Các yếu tố gây ra những cạm bẩy: (1) Ðọc kết quả sa. (2) Chất lượng STTT kém. (3) Lấy mẩu sai (4) Không quan tâm đến đặc điểm đại thể, (5) các sang thương khó đọc kết quả.

SUMMARY

DISTRIBUTION OF CEA (CARCINOEMBRYONIC ANTIGEN) IN NORMAL
AND CANCEROUS GASTRIC MUCOSA: IMMUNOHISTOCHEMICAL ANALYSIS

Ðặng Thế Căn, Nguyễn Phi Hùng, Hoàng Xuân Kháng, Lê Ðình Roanh, Trịnh Quang Diện,
Tạ Văn Tờ * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of Pathology - Vol. 5 - Supplement of No 4 - 2001: 9 -
13

The diagnostic value of intraoperative frozen section examinations of 1917 cases at Hanoi K Hospital (from July,1996 to July 2001). Intraoperative frozen section technique has been proven to be valid and accurate based on many papers. In this study, we evaluate the accuracy, the specificity and the sensitivity of the technique upon over 1900 cases in K hospital from July, 1996 to July 2001 and analyse the major pitfalls in interpretation. In 1917 cases of frozen section examinations, the breast lesions account for 53.7%. The following sites are thyroid gland and lymph node. The accuracy degree is 96.03%, the sensitivity degree is 94.3% and the specificity degree is 97.9%. These results prove that the frozen section biopsy is a good method and is unrenunciable for cancer surgery. The factors contributing to the pitfalls were: 1) Misinterpretation, 2) Poor quality of frozen sections making the diagnosis difficult, 3) Sampling errors during sectioning, 4) Ignorance of macroscopic features, 5) Lesions were difficult to interpret...

ÐẶT VẤN ÐỀ

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân nói chung và khám chữa bệnh ung thư nói riêng ngày càng tăng. Yêu cầu có một chẩn đoán chính xác để lựa chọn một chiến lược điều trị thích hợp là rất cần thiết. Ngày càng có nhiều trang thiết bị hiện đại và các phương pháp mới được ứng dụng để phục vụ mục đích này. Sinh thiết tức thì (STTT) là phương pháp chẩn đoán mô học ngay trong lúc mổ trên các tiêu bản cắt lạnh bằng máy cắt lạnh (Cryostat) đã đóng góp một phần làm giảm số lần phẫu thuật và giảm thời gian điều trị cũng như những tốn kém và phiền phức cho bệnh nhân. Kỹ thuật này được Welch thực hiện lần đầu tiên năm 1891 và ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. ở Việt Nam, kỹ thuật này tuy đã được ứng dụng nhưng phạm vi còn rất hạn chế, chủ yếu được thực hiện tại Bệnh viện K và Trung tâm ung bướu thành phố Hồ Chí Minh. Tại Bệnh viện K, STTT đã được đưa vào sử dụng từ năm 1975 và số lượng ngày càng tăng (122 trường hợp trong những năm 1975-1980, 127 trường hợp trong năm 1988, 146 trường hợp từ 7/96 -7/97, 757 trường hợp từ tháng 7/97- 9/99 và trong 5 năm 1996-2001 có trên 2000 trường hợp). Số liệu trên cho thấy kỹ thuật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình điều trị ung thư. Trong công trình này, dựa trên số liệu phong phú chúng tôi đánh giá giá trị của STTT về mức độ đặc hiệu, độ nhạy và các giá trị dự báo cũng như những cạm bẫy trong quá trình chẩn đoán, giúp cho những cơ sở mới triển khai kỹ thuật tránh được những sai lầm không cần thiết.

Ðối tượng và phương pháp nghiên cứu

Ðối tượng nghiên cứu

1917 trường hợp được sinh thiết tức thì tại Bệnh viện K từ 7/96-7/2001, có đủ hồ sơ, kết quả chẩn đoán GPB sau mổ.

Phương pháp nghiên cứu

Phương tiện

Máy cắt lạnh Cryotome AS 620 của hãng Shandon.

Thuốc nhuộm Xanh Toluidin 1% và Hematoxylin-Eosin.

Kỹ thuật

Máy cắt lạnh được đặt ở nhiệt độ khoảng - 25oC, bác sỹ GPB nhận xét về đại thể, lấy phần bệnh phẩm nghi ngờ nhất (cắt mỏng khoảng 1-2mm, phủ dung dịch cố định đưa vào máy cắt lạnh). Các tiêu bản được cắt mỏng từ 4-6 micron, nhuộm đồng thời xanh Toluidin và HE, đọc kết quả dưới kính hiển vi quang học, trả kết quả sau 5-10 phút. Phần bệnh phẩm sau cắt lạnh được cố định vùi nến làm tiêu bản mô học thông thường.

Số liệu

Ðược xử lý bằng các thuật toán thống kê.