Nguyễn
Vượng*, Nguyễn Thị Chi*, Nguyễn Thị Thu Hà*, Võ Văn Bản*, Ðào
Trung Dũng*, Ngô Lê Lâm*, Lê Trung Thọ*, Trịnh Quang Diện*,
Nguyễn Thuý Hương*,
Ðặng Văn Dương*, Nguyễn Thị Tân Sinh*.
Từ tháng 4-1998 tới tháng 6-2001, 840 phụ nữ tại Bệnh viện Việt Pháp đã được xét nghiệm tế bào học bằng phiến đồ sàng lọc Papanicolaou nhằm phát hiện sớm các ung thư cổ tử cung trong đó, 75 trường hợp (8,92%) đã được chẩn đoán là ASCUS và 7 trường hợp (0,83%), là AGUS. Những tiêu chuẩn tế bào học của ASCUS "kinh điển" và/ hoặc các thứ nhóm hiện hành của chúng đã được bàn luận và được xem như một chẩn đoán mập mờ phản ánh những hạn chế của hình thái vi thể trong việc phân loại những biến đổi tế bào học trong lịch sử tiến triển tự nhiên của ung thư cổ tử cung.
Cytologic diagnosis of ascus in early detection of cervic cancer
Nguyễn Vượng, Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Thu Hà, Võ Văn Bản, Ðào Trung Dũng, Ngô Lê Lâm, Lê Trung Thọ, Trịnh Quang Diện, Nguyễn Thuý Hương, Ðặng Văn Dương, Nguyễn Thị Tân Sinh. Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of Pathology - Vol. 5 - Supplement of No 4 - 2001: 24-31
From April 1998 to June 2001, 840 women at Vietnamese-French hospital were examined cytologically by a screening Pap smear in order to detect cervical cancers, among them, 75 cases (8.92%) were diagnosed ASCUS and 7 cases (0.83%), AGUS.
The cytologic criteria of classic "ASCUS" and/or of their current subcategories were discussed and considered as an equivocal diagnosis reflecting the limitations of microscopic appearance in classifying cytologic changes from natural history of the evolution of cervic cancer.
Ðể phát hiệm sớm ung thư cổ tử cung, ngày nay phương pháp sàng lọc tế bào học các phiến đồ cổ tử cung âm đạo (lấy bệnh phẩm bằng quệt bẹt Ayre cải tiến, nhuộm Papanicolaou) được coi như một test mũi nhọn(2,3,6). Việc chẩn đoán và phân loại các tổn thương trên phiến đồ theo hệ Bethesda cải tiến đến nay vẫn được coi là cập nhật nhất và được áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu(1,2,3,4,6,10,11).
Trong lịch sử phát triển tự nhiên của ung thư cổ tử cung kéo dài mấy chục năm, kể từ những tổn thương đầu tiên có tính chất hỗ trợ, phát động như dị sản, có tính chất thúc đẩy như loạn sản, ung thư tại chỗ, có tính chất khẳng định ung thư như ung thư vi xâm nhập và xâm nhập, người ta ngày càng hiểu rõ hơn thực chất các bước đi đó.
Không kể nhiều yếu tố nguy cơ cao như quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, đẻ dày, đẻ nhiều, hút thuốc lá... thì virut sinh u nhú ở người (HPV human papillo virus) với trên 70 tip (trong đó trên mười tip có khả năng sinh ung thư) hiện được coi là thủ phạm quan trọng nhất và chúng thể hiện sự có mặt trên phiến đồ qua hình ảnh các tế bào bóng (Koilocytes) với nhân ít nhiều bất thường. Mối quan hệ giữa tế bào bóng với tổn thương nội biểu mô vảy (SIL= squamous intraepithelial lesion) đang là vấn đề thời sự trong sàng lọc ung thư cổ tử cung và là một mốc quan trọng của hệ Bethesda(2,3,6,10,11).
Trong thời đại hiện nay, một chủ đề có ý nghĩa chiến lược đã và đang trở thành hiện thực trong phòng chống ung thư cổ tử cung là phát hiện bệnh ở giai đoạn tiền xâm nhập qua sàng lọc tế bào học tại cộng đồng. Nhưng trong những chặng đường đã được xác định rõ của lịch sử tiến triển tự nhiên ung thư cổ tử cung lại đan xen một khoảng xám là các tế bào vẩy được gọi là "không điển hình ý nghĩa chưa xác định" (ASCUS: atypical squamous cells of undetermined significance). ASCUS thể hiện cái chưa biết rõ về giá trị chẩn đoán, một sự mập mờ cả về lý luận lẫn thực hành song lại tồn tại như một tất yếu khách quan buộc nhà chẩn đoán tế bào học phải đối mặt để từng bước làm sáng tỏ tiêu đề bệnh này(4,7,8,9,10,11).
Công trình này, trước hết, nhằm áp dụng cập nhật việc chẩn đoán ASCUS vào thực tế Việt Nam, hi vọng sẽ giúp được các đồng nghiệp trong chuyên ngành những kinh nghiệm bước đầu trong chẩn đoán.
Trong 38 tháng (4/1998 - 6/2001), 840 bệnh nhân tại bệnh viện hữu nghị Việt Pháp đã được xét nghiệm tế bào học phụ khoa theo kỹ thuật quy định của Tổ chức Y tế Thế giới: lấy bệnh phẩm ở cổ tử cung bằng quệt bẹt Ayre cải tiến, nhuộm phiến đồ theo Papanicolaou..., đọc và phân loại tổn thương theo hệ Bathesda có sửa đổi. Từng thành viên tham gia nghiên cứu đọc phiến đồ và chẩn đoán ASCUS được xác lập sau khi kiểm định có sự thống nhất chung. Những hình ảnh điển hình được chụp vi thể mầu, làm phim dương bản. Phương pháp nghiên cứu theo cách mô tả cắt ngang, số liệu được xử lý theo toán thống kê thường quy.
Trên
840 bệnh nhân đã nghiên cứu, chúng tôi đã phát hiện 75 trường
hợp ASCUS, chiếm tỷ lệ 8,92% và 7 AGUS (chiếm tỷ lệ 0,83% so với
toàn bộ số bệnh nhân và 9,33% so với ASCUS). Chỉ có 1 bệnh
nhân có ASCUS đơn thuần (1,33%), số còn lại đều kết hợp
viêm thông thường, viêm đặc hiệu, quá sản tế bào dự trữ
hoặc dị sản, loạn sản ở những mức độ khác nhau. Tình hình
tổn thương kết hợp được phản ảnh ở bảng I.
Bảng 1. Tổn thương phối hợp với ASCUS.
|
TT |
Loại tổn thương
phối hợp |
Số bệnh nhân |
Tỷ lệ% |
|
1 |
Viêm nhẹ |
12 |
16% |
|
2 |
Viêm vừa |
24 |
32% |
|
3 |
Viêm nặng |
38 |
50,66% |
|
* |
Tổng các loại viêm |
74 |
98,66% |
|
4 |
Viêm do virut sinh u nhú ở người (HPV) |
28 |
37,33% |
|
5 |
Viêm do nấm Candida albicans* |
4 |
5,33% |
|
6 |
Viêm do trực cầu khuẩn |
3 |
4% |
|
7 |
Viêm do Gardnerella vaginalis |
3 |
4% |
|
8 |
Viêm do Trichomonas vaginalis |
2 |
2,66% |
|
9 |
Viêm do nấm Actinomyces |
1 |
1,33% |
|
** |
Tổng viêm đặc hiệu |
41 |
54,66% |
|
10 |
Quá sản tế bào dự trữ |
4 |
5,33% |
|
11 |
Dị sản vẩy |
21 |
28% |
|
12 |
Vừa quá sản tế bào dự trữ lẫn dị sản vẩy |
43 |
57,33% |
|
*** |
Tổng các tổn thương sửa chữa |
68 |
90,66% |
|
13 |
Loạn sản độ cao (HSIL) |
4 |
5,33% |
|
15 |
Phiến đồ teo |
4 |
5,33% |
Ghi chú: *có 1 bệnh nhân kết hợp cả nấm Leptothrix và 1 bệnh nhân, viêm do Herpes.
Ðược gọi là viêm nhẹ, vừa hay nặng là tùy thuộc ở mức độ tập trung và thoái hoá của bạch cầu đa nhân như đã nêu ở các công trình trước và trong trường hợp viêm đặc hiệu, tế bào viêm thường đi đôi với số lượng ký sinh vật hay tế bào bóng (nhiễm HPV).
Bảng I cho thấy ASCUS kết hợp với các mức viêm với tỷ lệ rất cao (98,66%) trong đó viêm nặng (50,66%) và viêm vừa (32%) chiếm ưu thế rõ. Viêm đặc hiệu cũng thực sự phổ biến (54,66%) trong đó HPV chiếm vị trí hàng đầu (37,33%). Quá sản tế bào dự trữ và dị sản vảy chiếm tỷ lệ thực sự đáng chú ý: 90,66% và tỷ lệ loạn sản độ cao 5,33% cũng cao hơn thông lệ.
Bảng 2. Liên quan giữa ASCUS với tuổi
|
TT |
Ðộ tuổi |
Số trường
hợp |
Tỷ lệ% |
|
|
1 |
15-19 |
1 |
1,33% |
|
|
2 |
20-24 |
3 |
4% |
(29, 33%) |
|
3 |
25-29 |
19 |
25,33% |
|
|
4 |
30-34 |
18 |
24% |
33 (44%) |
|
5 |
35-39 |
18 |
20% |
|
|
6 |
40-44 |
10 |
13,33% |
15 (20%) |
|
7 |
45-49 |
5 |
6,66% |
|
|
8 |
50-54 |
3 |
4% |
4 (5,33%) |
|
9 |
55-59 |
0 |
0% |
|
|
10 |
60-64 |
1 |
1,33% |
|
|
|
Tổng
|
75 |
100% |
|
Bảng II cho thấy tỷ lệ ASCUS có liên quan hoạt động tình dục, tăng nhanh ở độ tuổi 25-34: 37 (49,33%) giảm đi ở độ tuổi 35-44: 25 (33,33%), giảm nhanh ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh: sau 45 tuổi: 9 (12%). Trong 4 trường hợp phiến đồ teo (sau mãn kinh) có 1 trường hợp ở tuổi 45, 2 trường hợp ở tuổi 50, 51 và 1 trường hợp, ở tuổi 61. Như vậy ở độ tuổi hoạt động tình dục nhiều (25-44 tuổi) tỷ lệ ASCUS chiếm ưu thế tuyệt đối: 62 (82, 66%).