Tất cả các bệnh nhân nhập viện vào khu C - TT. Phạm Ngọc Thạch có chỉ định soi phế quản và có tổn thương phổi - phế quản nghi ung thư mà nội soi khó quan sát, không thấy được hoặc việc sinh thiết qua nội soi gặp nhiều trở ngại (không đưa kìm sinh thiết tới được)
Hầu như không có chống chỉ định vì khi đã thực hiện được soi phế quản thì đều có thể thực hiện được chải phế quản
Chống chỉ định nếu có là của soi phế quản chứ không phải của riêng kỹ thuật chải phế quản.
Trong vòng 1 năm từ tháng 06/ 1999 đến 06/ 2000.
Kỹ thuật làm rất đơn giản: bước đầu thực hiện và chuẩn bị bệnh nhân cũng giống như các bước tiến hành nội soi phế quản thông thường. Khâu quan trọng nhất của bác sĩ nội soi là định vị cho được nhánh phế quản nghi ngờ sẽ có tổn thương trong sâu và thực hiện kỹ thuật chải (bằng phim X quang thẳng và nghiêng hoặc phim CT-scan): dùng một dụng cụ ở đầu có gắn một bàn chải nhỏ luồn vào trong lòng nhánh phế quản đã định vị và cọ xát tới lui trên bề mặt niêm mạc, sau đó rút ra, phết mẫu bệnh phẩm lên lame kính để đọc tế bào học. Lặp lại thủ thuật khoảng từ 2 - 4 lần để có được 2 - 4 mẫu lame cho mỗi trường hợp.
Lame kính sau khi đã được phết đều tế bào sẽ được nhuộm ngay bằng phương pháp nhuộm Liu và Papanicolaou. Phương pháp nhuộm Liu được thực hiện qua 2 bước như sau: đầu tiên nhỏ dung dịch A lên trên bệnh phẩm để khoảng từ 30 - 50 giây sau đó nhỏ thêm dung dịch B, nghiêng lame kính để trộn đều hai dung dịch, để khoảng từ 60 giây đến 90 giây và rửa nước. Khi lame kính khô quan sát trên kính hiển vi để chẩn đoán tế bào . Phương pháp nhuộm Papanicolaou được thực hiện ngay sau đó để phối hợp cho ra kết quả chẩn đoán tế bào học sau cùng.
Kết quả tế bào học sẽ do hai bác sĩ của Khoa Giải Phẫu Bệnh đọc độc lập với nhau và chỉ khi kết quả trùng hợp với nhau mới chọn vào số ca nghiên cứu.
Kết quả tế bào học sẽ được so sánh với kết quả sinh thiết đi kèm gồm có: sinh thiết niêm mạc phế quản, sinh thiết xuyên thành phế quản, sinh thiết phổi xuyên thành ngực, sinh thiết màng phổi mù và qua nội soi màng phổi, sinh thiết hạch, sinh thiết u di căn thành ngực, phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi.
Nếu trường hợp nào không có kết quả chẩn đoán mô học đi kèm thì không được đưa vào nghiên cứu này.
Nếu trường hợp tế bào học chẩn đoán lành tính sẽ được so sánh với kết quả định bệnh dựa trên các kết quả xét nghiệm về vi trùng học, sinh học ngoài kết quả chẩn đoán mô học.
Tổng kết các số liệu: với các số liệu quan trọng: số dương tính thật, số dương tính giả, số âm tính thật, số âm tính giả.
Từ các số liệu trên tính toán ra các chỉ số: độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên lượng dương, giá trị tiên lượng âm và độ chính xác của kỹ thuật.
Tổng kết các yếu tố có liên quan đến kỹ thuật chải phế quản:
- Vị trí của các nhánh phế quản đã thực hiện chải phế quản.
- Vị trí của các khối u.
- Biến chứng gặp phải khi thực hiện chải phế quản.
- Số lần thực hiện chải phế quản.
- Liên quan giữa tỉ lệ các type mô học của chẩn đoán tế bào học với chẩn đoán mô học và sự phù hợp của nó.
Qua các số liệu thu được đưa ra các phân tích, đánh giá và kết luận về kỹ thuật chải phế quản chẩn đoán tế bào học trong ung thư phổi.
Tiêu chuẩn chẩn đoán ác tính: có bằng chứng của chẩn đoán mô học là ác tính.
Tiêu chuẩn chẩn đoán lành tính: có bằng chứng xác định về chẩn đoán mô học là lành tính, có các xét nghiệm về vi sinh, hoặc diễn tiến bệnh lành tính: điều trị đặc hiệu bằng thuốc không phải ung thư tình trạng bệnh cải thiện tố, tổn thương phổi giảm trên phim X quang.
Các trường hợp ác tính sẽ được coi là dương tính và các trường hợp lành tính sẽ được coi là âm tính.
Có ba loại tế bào gai từ đường hô hấp trên trong bệnh phẩm:
(1) Tế bào bề mặt (Lớp trên cùng: Superficial cells): Tế bào lớn mỏng, đa cực, trong suốt, bắt màu đỏ (eosinophilic), nhân teo (pyknotic).
(2) Tế bào lớp giữa (Intermediate cells): xuất phát từ lớp giữa (lớp trung gian) của biểu mô gai có kích thước tương tự tế bào bề mặt, đa diện bào tương bắt màu đỏ hoặc xanh, nhân hình tú (bầu dục). Tế bào trung gian ưa cosmophit chiếm phần lớn tế bào trong mẫu đàm.
(3) Tế bào cận đáy (Parabasal cells): xuất phát từ lớp cận đáy của biểu mô, bào tương đặc, ranh giới rõ rệt, ăn màu xanh tím. Nhân tương tự như tế bào lớp giữa. Tế bào cận đáy ít khi thấy trong các mẫu bệnh phẩm của phổi.
Có ba loại biểu mô hô hấp:
(1) Tế bào trụ cao có lông chuyển (High Columnar Ciliated Cells): Có chiều dài thay đổi, có một đầu rộng phẳng và đầu tận cùng(end plate-terminal plate) có màng tế bào dày với nhiều lông chuyển. Bào tương đồng nhất màu hơi xám xanh. Nhân nằm giữa, hình bầu dục hoặc tròn có những đám chất nhiễm sắc (chromatin) và tiểu nhân đôi khi rất rõ và lớn; hình ảnh tế bào nhiều nhân rất ít khi gặp; Các tế bào trụ này sắp xếp rời rạc hay thành đám, thành dải nhỏ. Tế bào trụ nhiều nhân ít gặp và khó tìm thấy vì các tế bào chồng chéo lên nhau, nhân lại nhuộm đậm màu. Các lông chuyển thường rất khó nhìn thấy; khi đó cần nhận biết rằng các dấu hiệu như sau:
** Tế bào hình trụ, khối hoặc ba cạnh
** Ðầu tận cùng phẳng
** Còn lại dấu vết lông chuyển ở một góc nào đó của tế bào .
Cũng nhờ vào dấu hiệu này xác định chắc chắn tế bào có nguồn gốc biểu mô lành tính. Ðôi khi thấy được dạng tế bào có hai đầu: một đầu phẳng và một đầu dạng mái vòm. Nhân bất thường là loại nhân lớn tăng sắc, ít khi có dạng chất nhiễm sắc thô.
(2) Tế bào đài (Goblet Cells): Cũng bong tróc ra từ biểu mô bề mặt. Chúng có kích thước tương tự như tế bào trụ nhưng không có lông chuyển. Bào tương bắt màu hơi xanh tím, thường có chứa các không bào chứa nhầy, nhân dài có dạng ba cạnh hoặc sắc gọn gàng. Khi bào tương chứa ít hoặc không chứa chất nhầy, tế bào đài có dạng như các túi giấy nhăn nheo (rumpled paper bag).
(3) Các tế bào lớp mầm biểu mô (Cells of the Germinative Layer of The Epithelium): Gồm các tế bào đáy, tế bào dự trữ, thường loại tế bào này hiếm thấy trong các chất tiết. Chúng thường nhỏ, tròn, bầu dục hoặc đa diện; bào tương màu xanh tím, có hạt lấm tấm; nhân tròn hoặc bầu dục hoặc dạng túi.
Tế bào gai chuyển
sản lớn hơn tế bào cận đáy nhưng nhỏ hơn tế bào gai niêm
mạc miệng. Chúng có dạng hình khối, đa diện hoặc hình cầu.
Bào tương thường ăn màu đỏ hoặc có khi màu tím. Nó không
mỏng như tế bào gai niêm mạc miệng mà cũng không dày như
tế bào gai sừng hóa. Nhân tế bào gai chuyển sản tròn, đều
đặn chất nhiễm sắc thưa; kích thước lớn hơn hay bằng nhân
tế bào gai niêm mạc miệng. Tế bào gai chuyển sản dễ nhận
biết khi nằm thành đám, đặc biệt khi có lẫn tế bào trụ
cao tạo hình ảnh giống như lót trên bề mặt của phế quản. Sự
tập trung của các tế bào gai chuyển sản phản ánh tính chất
kết dính của chúng. Tế bào gai chuyển sản cũng có thể tạo
ra các nhân không điển hình. Khi chuyển gai không điển hình
nhẹ và vừa, nhân có dạng nhân lớn, tăng sắc, đôi khi có
thể thay đổi hình dạng của nhân. Chuyển sản gai không điển
hình nặng có hình ảnh tăng sắc nhiều ở nhân, chất nhiễm
sắc vón cục, kích thước và hình dạng nhân đều thay đổi.
Hầu hết các tế bào gai chuyển sản có bào tương bắt màu acid (đỏ). Nếu có màu cam là đã sừng hoá thì không phải tế bào gai chuyển sản. Ngoài ra, cũng có sự tương xứng trên mô học có chuyển sản gai niêm mạc phế quản và trên tế bào học có tế bào gai chuyển sản trong mẩu dịch. Tế bào gai chuyển sản cũng có thể là kết quả của một carcinome dạng thượng bì tại chỗ (Epidermoid Carcinoma In Situ).
Thực bào ở phổi (thực bào phế nang, tế bào bụi: Alveolar Macrophage, Dust Cell) là các mô bào lớn xuất nguồn từ phế nang nằm sâu trong phổi. Khi có các tế bào này chứng tỏ mẩy bệnh phẩm là chất tiết từ sâu ở đường hô hấp dưới.
Thực bào phổi có hình tròn, bầu dục, thường lớn hơn mô bào bình thường, đường kính khoảng 10-30 micromet, bào tương rõ bắt màu xanh tím, đỏ hoặc hai màu; bào tương thường chứa các tiểu thể màu xám, nâu hoặc đen; đôi khi thấy rõ được các không bào đặc biệt khi không có các tiểu thể trên. Ðôi khi bào tương có chứa các dị vật màu nâu hoặc đen, có khi chúng che lấp cả nhân tế bào . Nhân của đại thực bào phế nang có kích thước cỡ tế bào gai niêm mạc miệng; chất nhiễm sắc dạng túi hoặc dạng mảnh; hầu hết các nhân có dạng tròn hoặc có hình đĩa. Thực bào phế nang luôn có một nhân, nhưng cũng có thể có nhiều nhân.
Các tế bào viêm đều có trong các bệnh phẩm ở phổi đặc biệt là đàm. Số lượng và hình thái rất thay đổi, thường chúng không cung cấp các thông tin chẩn đoán gì đặc biệt. Tuy nhiên, trong các mẫu có mủ thường thấy trong viêm phổi nặng; nhiều eosinophils trong bệnh hen phế hoặc viêm phế quản dạng hen; hay các tế bào epitheloids thường đi với các bệnh lý mô hạt viêm như lao...
(1) Mô bào nhỏ (Small Histiocytes): Có thể thấy xuất hiện trong các mẫu đàm hoặc chất tiết phế quản. Các tế bào này tròn hoặc hơi méo; nhân có hình tròn, bầu dục nằm lệch về một phía ăn màu xanh tím hoặc xám. Trong đám mô bào nhỏ thường có một hoặc nhiều tế bào có nhân hạt đậu, đây là dấu hiệu quan trọng xác định tế bào này. Bào tương các tế bào này bắt màu xanh tím có thể có các không bào hoặc tiểu thể.
(2) Mô bào đa nhân khổng lồ (Giant Multinucleated Histiocytes): Ðây là loại đại bào ăn dị vật với kích thước lớn gấp 2-10 lần mô bào nhỏ. Nhân hình tròn, chất nhiễm sắc thô phân bố rải rác hoặc tập trung lại. Bào tương có màu xanh tím hoặc hai màu, giới hạn của tế bào rõ ràng.
(3) Tế bào dạng
biểu mô (Epitheloid Cells): Ðây là loại thực bào đơn nhân tìm
thấy quanh các ổ hoại tử lao hay các mô hạt viêm đặc hiệu
khác. Các tế bào này hơi giống với tế bào biểu mô:có
dạnh bầu dục hay thon dài, bào tương màu hồng, giới hạn tế
bào không rõ. Trong mẫu bệnh phẩm tế bào học, thường có
dạnh thon dài, hình dạng có khi tương tự như mô bào nhỏ, nằm
thành đám chung với các mô bào nhỏ. Dạng trung gian giữa
thon dài và bầu dục ít gặp hơn. Bào tương các tế bào này
có chứa không bào bắt màu xanh tím hay hai màu. Nhân tròn
hay dài và thường có nếp gấp khúc, có khi có dạng đầu
bằng, dạng hạt đậu, dạng thận hay dạng quả lê. Ðại bào
Langerhans là tập hợp các tế bào này với vị trí các nhân
nằm ở ngoại vi, thường có dạng thon dài nằm gối lên nhau
tạo dạng móng ngựa.