Nguyễn Sơn Lam*, Nguyễn Trần Phùng*, Trần Ngọc Thạch*
Từ hơn hai năm nay, Trung Tâm Lao và Bệnh Phổi Phạm Ngọc Thạch đã bắt đầu sử dụng một trong những kỹ thuật để chẩn đoán ung thư phế quản - phổi: chẩn đoán tế bào học chải phế quản qua nội soi phế quản.
Kết quả của 278 trường hợp trong nghiên cứu này đã cho thấy đây là một kỹ thuật hữu dụng - Với độ nhạy: 87,4%; độ đặc hiệu: 92,6%; giá trị tiên lượng dương: 95,8%; giá trị tiên lượng âm: 79,3% và độ chính xác 89,2%, đặc biệt là các khối u ngoại biên mà khi nội soi phế quản không quan sát được hoặc không thực hiện sinh thiết được. Ðây cũng là một kỹ thuật ít có biến chứng và thực hiện dễ dàng.
BRONCHIAL BRUSHING CYTOLOGY IN BRONCHO-PULMONARY CANCER
Nguyễn Sơn Lam, Nguyễn Trần Phùng, Trần Ngọc Thạch * Y học TP. Ho Chi Minh * Special issue of Pathology - Vol. 5 - Supplement of No 4 - 2001: 36-47
For more than 2 years, we have been applying at Pham Ngoc Thach Tuberculosis and Lung Diseases Center one of the techniques to diagnose broncho-pulmonary cancer: Bronchoscopic Bronchial Brushing Cytology. The results of this study comprising 278 cases prove that this technique is quite applicable - Sensitivity: 87.4%; Specificity: 92.6%; Positive Predictive Value: 95.8%; Negative Predictive Value: 79.3% and Accuracy Index: 89.2%, especially in peripheral tumors that cannot be seen or biopsied during the fiberbronchoscopies. The complications are rare and the technique is easy to carry out.
Nội soi phế quản có một lịch sử từ hơn 100 năm qua, phương pháp này đã góp phần đáng kể trong phát hiện sớm và xử trí kịp thời nhiều tổn thương của cây khí - phế quản. Ngày nay, nội soi phế quản đã có những cải tiến và tiến bộ rất nhiều để đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho chẩn đoán và điều trị các bệnh lý về phổi. Lịch sử của nội soi phế quản được đánh dấu bởi các cột mốc như sau:
Năm 1854, Joseph P. O’ Dwyer (1841-1894, người Mỹ): là một thầy thuốc nổi tiếng về thủ thuật đặt nội khí quản ở bệnh nhân bị bệnh bạch hầu, đã chế tạo ra một ống soi bằng kim loại để gắp các dị vật ở khí quản và phế quản. Ông là một thành viên quan trọng trong sự phát triển của ngành phế quản học.
Năm 1895, Kirstein (người Ðức): đã khảo sát trực tiếp bên trong thanh quản bằng ống soi O’ Dwyer có thêm bóng đèn điện tử lăng kính của Casper qua việc đè lưỡi và nắp thanh môn. Ông là người đã phát minh ra ống soi thanh quản đầu tiên.
Năm 1898, Gustav Killian (người Ðức): là một thầy thuốc được coi như là cha đẻ của kỹ thuật nội soi phế quản nhờ đã khảo sát được đoạn dưới khí quản và phế quản gốc bằng ống soi thanh quản của Kirstein. Ông đã thuyết phục được người gác cổng bệnh viện đã về hưu tại Freiburg, Ðức, để ông thám sát phế quản bằng ống soi cứng với ống soi thanh quản Kirstein, tuy nhiên vì phế quản quá cứng nên ông không thể khảo sát kỹ lưỡng hơn nhưng cũng không gây ra biến chứng chảy máu. Cũng trong năm 1898, một người nông dân 63 tuổi ở Black Forest bị hóc phải một mảnh xương heo và bị ho, khó thở dữ dội kèm khạc ra máu. Ông Killian đã dùng ống soi thanh quản Kirstein để soi phế quản và thấy có một vật lạ cứng khoảng 3,5 cm nằm ở phế quản gốc bên phải. Ðầu tiên ông đề nghị mở khí quản để lấy dị vật này ra nhưng không được cho phép vì ông không phải là thầy thuốc ngoại khoa. Sau buổi hội chẩn, các thầy thuốc quyết định không mổ và ông Killian đã dùng ống soi thực quản Mikulicz - Rosenheim để lấy dị vật ra sau khi đã gây tê bằng cocaine. Cuối năm 1898, trong Hội nghị các nhà thanh quản học tại Tây Nam nước Ðức ở Heidelberg và Killian đã báo cáo 3 trường hợp gắp thành công dị vật ở cây khí - phế quản. Từ các sự kiện trên đã mở ra một kỷ nguyên về khảo sát cây khí - phế quản bằng nội soi.
Năm 1902, Max Einhorn (1865 - 1928,người Mỹ) đã phát triển ống soi thực quản với đèn soi ở đầu ống soi.
Năm 1904, Chevalier Jackson (1865 - 1958, nguời Mỹ): đã chế tạo ra ống soi phế quản có chiếu sáng ở đầu ống soi nhưng chưa có hệ thống hút rửa. Ông đã là người phổ biến rộng rãi cách soi thanh quản và phế quản theo kiểu Jackson va ông đã thành lập ra Khoa Nội soi phế quản - thực quản nơi sản sinh ra các học trò nổi tiếng như L.H. Clerf, G. Tucker, Joe Ono và P.H. Holinger.
Năm 1908, Inokichi Kubo (người Nhật) đã trở về Nhật vào năm 1907 với các kỹ thuật mà ông học được từ Bác sĩ Gustav Killian ở Ðức đã tiến hành thực hiện kỹ thuật gắp dị vật phế quản tại trường đại học Kyushu. Năm 1934, Joe Ono: đã theo học khoá soi phế quản với Bác sĩ Jackson vào năm 1933 và một năm sau ông trở về Nhật ứng dụng vào lâm sàng, sau đó ông thành lập Học Viện Soi Thực Quản - Phế Quản tại Nhật.
Năm 1962, ba bác sĩ người Nhật Shigeto Ikeda, Shohei Horie và Kenichi Takino bằng ứng dụng của phát triển sợi thủy tinh quang học chế tạo ra thấu kính soi phế quản với các sợi thủy tinh dẫn truyền ánh sáng. Hệ thống này đã giúp tạo cho nhiều thuận lợi khi soi phế quản: độ chiếu sáng tốt hơn, thị trường quan sát rộng hơn và giảm được đường kính của ống soi. Nhờ vậy các ông đã có thể quan sát tới tận các phế quản phân thùy của thùy giữa và thùy dưới.
Năm 1966, Shigeto Ikeda chế tạo ra ống soi phế quản mềm và ông đã báo cáo tại Hội nghị Bệnh lồng ngực tại Copenhagen. Từ đây một kỹ thuật mới về quan sát bệnh lý cây phế quản được ứng dụng rông rãi và dần dần ống soi phế quản mềm đã thay thế cho ống soi cứng. Năm 1969, Bác sĩ Ikeda đã đến giới thiệu rộng rãi kỹ thuật nội soi phế quản bằng ống soi mềm tại các bệnh viện tại Mỹ như Viện Ung Thư, Bệnh Viện John Hopkins... Từ đó nội soi phế quản bằng ống soi mềm đã trở thành một kỹ thuật chuẩn dùng cho việc khảo sát bệnh lý của cây phế quản phổi.
Năm 1970, bác sĩ Ryosuke Ono đã thực hiện kỹ thuật sinh thiết phổi xuyên thành phế quản bằng kìm bấm có hai khớp nối để chẩn đoán các ung thư ngoại vi phổi có kích thước nhỏ khoảng 2 cm.
Năm 1971, hai ông Shigeto Ikeda và Ryosuke Ono đã sử dụng camera ghi lại hình ảnh màu khi soi phế quản.
Năm 1984, cũng hai bác sĩ người Nhật này đã dùng camera với kỹ thuật số ghi lại hình ảnh soi phế quản và được giải mã thông qua một hệ thống điện toán. Ðiều này giúp cho thầy thuốc quan sát kỹ hơn các biến đổi của niêm mạc phế quản.
Từ đó đến nay đã có nhiều thành tựu khoa học được ứng dụng cho kỹ thuật soi phế quản với ống soi ngày càng nhỏ hơn, các bộ nguồn sáng tốt hơn (như bộ cảm ứng tích điện nhân đôi: Charge Coupled Device Sensor), kỹ thuật nội soi phế quản truyền hình (Videobronchoscopy)... đã giúp ích rất nhiều cho các bác sĩ chuyên khoa bệnh phổi.
Trong chẩn đoán: sinh thiết niêm mạc phế quản, sinh thiết phổi xuyên thành phế quản, rửa phế quản - phế nang, chải phế quản, chọc hút xuyên thành phế quản...
Trong điều trị: lấy dị vật khí quản - phế quản, điều tri bằng laser, bằng liệu pháp lạnh, đốt điện ...
Một số tổn thương phổi, đặc biệt là những tổn thương ở ngoại vi phổi hoặc ở vùng thùy trên phổi đôi khi tạo khó khăn cho các thầy thuốc làm nội soi phế quản, vì không thể với tới được các tổn thương này để sinh thiết đem xét nghiệm về tổ chức học. Phương pháp chải phế quản để chẩn đoán tế bào học là một trong những kỹ thuật nhằm giải quyết những trường hợp khó khăn này. Ðầu tiên vào những năm 70 của thế kỷ này, người ta chỉ dùng để chẩn đoán các tổn thương ác tính xâm lấn trong lòng phế quản, sau đó nhờ các tiến bộ về tế bào học, hoá miễn dịch... đã có nhiều công trình báo cáo về việc ứng dụng chải phế quản để chẩn đoán các bệnh lý không phải ác tính ở phổi như: lao, nấm...
Tại Việt Nam đã có vài công trình nghiên cứu về kỹ thuật chải phế quản trong chẩn đoán các bệnh lý về phổi. Riêng tại TT. Phạm Ngọc Thạch do nhiều yếu tố như: trang thiết bị chưa đầy đủ, kinh nghiệm chẩn đoán tế bào học chưa nhiều... nên kỹ thuật này chưa được áp dụng trong việc chẩn đoán các bệnh lý về phổi, đặc biệt là các ung thư phổi nguyên phát.