Ðặc điểm hình thái nấm trong mô bệnh học

Candida albicans : sợi nấm có hình toa tàu và chồi gắn vào (hình 1). Cryptococcus neoformans: bào tử nấm có chồi (hình 2). Rhinosporidium seeberi: nội bào tử nấm trong các túi bào tử (hình 3). Aspergillus spp : sợi nấm phân nhánh 45o (h. 4)

               

               

                                                      

Penicilinum marneffei (hoặc Histoplasma capsulatum): Bào tử nấm phát triển trong bào tương các đại thực bào (hình 5). Penicilinum marneffei khác với Histoplasma capsulatum ở hình thái bào tử của Penicilinum marneffei hình bầu dục và có vách ngăn giữa bào tử.

Bàn luận

Cách thức chẩn đoán

Cách chẩn đoán không khó, nhưng khó do không nghĩ tới. Môi trường bệnh nhiệt đới, nghề nghiệp (nuôi chim, gia cầm) thuận lợi cho nấm phát triển. Có thể chẩn đoán bằng kỹ thuật soi tươi (tìm nấm trực tiếp) hay bằng kỹ thuật giải phẫu bệnh (cắt nhiều tiêu bản nhuộm PAS). Phần lớn nấm được chẩn đoán qua mô học nhiều hơn vì một số nấm cấy không mọc. VÍ DỤ: 2 trường hợp nhiễm Rhinosporidium seeberi thầy thuốc GIẢI PHẪU BỆNH cũng cần quan tâm đến (2).

Bệnh nhiễm nấm có thể kèm giai đoạn cuối ung thư mà THẦY THUỐC GIẢI PHẪU BỆNH chỉ chú ý ung thư nên không phát hiện ra nấm, do đó giảm hiệu quả điều trị (chết do nhiễm nấm trước khi có thể chết vì ung thư) (4).

Xem lại những trường hợp được phát hiện từ lần xem thứ 2 (nên xem lại vì mới xem qua không để ý). Cắt lại mẫu mô không phải chủ ý tìm kiếm nấm và vì theo hướng lâm sàng (đang tìm u mà không thấy) dù có u hay không thì cũng nên cắt nhiều lát. Tóm lại có ý niệm về nấm và có tâm ý tìm nấm thì có thể phát hiện được (loại gây bệnh chính hoặc loại nhiễm nấm trên nền bệnh lý khác).

Giới - Tuổi

Nhóm mắc bệnh: do số trường hợp còn ít và do bệnh viện Chợ Rẫy vào thời điểm này còn chưa có khoa Sản - Nhi nên chưa đủ để nhận định nhiễm nấm theo giới - tuổi. VÍ DỤ: bệnh nhiễm nấm Candida albicans thường gặp trong sản phụ khoa và ở trẻ em bị suy dinh dưỡng. Tuy nhiên số 40 trường hợp cũng cho thấy không có sự khác biệt về giới trong nhiễm nấm; điểm giống nhau là tập trung ở tuổi trưởng thành, tuổi lao động, tiếp xúc môi trường thường xuyên và trên cơ địa mạnh khỏe. Có trưòng hợp nấm gây bệnh tạo u giả rất nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân (giả u trong não hay u giả bít tắc đường thở) và hoàn toàn không phải nấm cơ hội: không có trường hợp nào có huyết thanh dương tính với HIV hay HBV, HCV. Vậy nấm gây bệnh cho nhóm tuổi lao động đang hoành hoành trong môi trường sống. Chúng tôi cũng loại trừ nhiễm nấm bệnh viện vì bệnh nhân được chẩn đoán sớm và lý do nhập viện phù hợp nhiễm nấm trước đó (ví dụ : tổn thương giả u).

Biểu hiện lâm sàng - Hình ảnh học

X quang qui ước và hình ảnh học là các phương pháp chẩn đoán quan trọng. Ngày nay có sự thiếu quan tâm các phương pháp kinh điển này như hình ảnh lục lạc trong nhiễm nấm Aspergillus ở phổi(1,2). Hình ảnh đại thể như nhiễm nấm Rhinosporidium tạo polyp có cuống, chồi sùi, gây loét bề mặt, tạo giả mạc, gây cản trở hô hấp. Ðến nay, MRI và CT không thể xác định được nấm mà chỉ nghĩ u như u xơ vòm mũi họng. Vai trò hình ảnh lâm sàng và tiền sử nhiễm nấm cũng rất quan trọng nên cần hỏi kỹ tiền sử tiếp xúc môi trường và bệnh sử. VÍ DỤ trong nhiễm nấm Aspergillus spp ở phổi, các THẦY THUỐC lâm sàng hãy nghĩ đến nhiễm nấm sau khi điều trị bằng kháng sinh thông thường mà bệnh nhân không khỏi.

Hình thái nấm trong mô bệnh học

Ðại thể :

Thường có dạng bọc (cyst) bên trong chứa chất hoại tử, hoặc dạng u đặc màu vàng.

Vi thể

Ðặc điểm ở mô bị nhiễm nấm: hoại tử, xuất huyết, thấm nhập nhiều bạch cầu đơn nhân, mô bào hình thái vi nấm, bào tử nấm: xem hình 1-5.

Chẩn đoán nấm chính xác và định danh

Có thể thực hiện trên mô học bằng phương pháp nhuộm thường qui hoặc PAS để báo động cho lâm sàng, nhất là những trường hợp sinh thiết; các loại nấm có hình thái đặc trưng như tơ nấm Candida có dạng toa tàu, có chồi, tơ nấm Aspergillus tạo góc phân nhánh 45o, bào tử nấm Rhinosporidium là các nội bào tử nằm trong các túi bào tử. Tuy nhiên để định danh chi1nh xác thì cần kết hợp khoa KÝ SINH TRÙNG học để cấy hoặc soi tươi. VÍ DỤ nhiễm nấm nội bào Histoplasma capsulatum và nấm Penicillium marneffei không thể phân biệt chắc chắn trên mô bệnh học (chỉ có thể cấy) và chúng tôi đã gặp trường hợp được chẩn đoán tình cờ trong mô hạch viêm và không thể xác định chính xác vì bệnh nhân đã hấp hối nên người nhà xin về nên không kịp cấy bệnh phẩm này.

Sự lây lan bệnh nấm

Thường lây qua đường hô hấp, ăn uống... Cần cảnh giác với sự gieo rắc này vì trong quá trình chẩn đoán và điều trị thì THẦY THUỐC có thể bị lây nhiễm (THẦY THUỐC nội soi, phẫu thuật viên...) và bệnh nhân có thể bị lây nhiễm qua dụng cụ (bóp bóng, nội soi...) nếu không tuân thủ nguyên tắc vô trùng. Ngoài ra còn nguy hiểm cho bệnh nhân nếu được xử trí tổn thương giả u như u thật (sẽ gieo rắc mầm bệnh theo đường máu đến các tạng quan trọng khác trong cơ thể). VÍ DỤ u giả trong não do nhiễm Cryptococcus neoformans nếu xử trí mổ lấy khối này không tốt sẽ gây lây nhiễm dẫn đến viêm màng não mủ do nấm. Do đó trong chẩn đoán nên nghĩ đến giả u (nấm, lao...) trước để có hướng điều trị toàn diện: nhiễm nấm có thể nguyên phát hay thứ phát trên bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch như bệnh nhân bị ung thư nhất là ở những bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh có khoa ung thư là môi trường tốt cho nấm phát triển, lây lan trên bệnh nhân bị ung thư hay đang điều trị ung thư (lymphoma, bệnh bạch cầu, bị xạ trị liều cao ở bệnh nhân bị sarcoma). Tham khảo y văn về nhiễm nấm cơ hội cho thấy tình hình nhiễm nấm đang gia tăng ở các nước(4).

KẾT LUẬN

Mặc dầu hiện tại chúng tôi chỉ mới có một số lượng khiêm tốn là 40 trường hợp nhiễm nấm; với số luợng rất khiêm tốn, chúng tôi có ý nghĩ 5 loại nấm gây bệnh là tác nhân rất dộc hại vì có thể làm mất chức năng và hủy hoại tạng hoặc gây tử vong nếu không được chẩn đoán hay điều trị kịp thời; bệnh có thể để lại di chứng (Ví dụ nhiễm Cryptococcus neoformans ở não gây động kinh về sau, nhiễm nấm Candida albicans gây sẹo hẹp thực quản về sau... chưa kể trường hợp bệnh nhân được phẫu thuật tim hở, tạo cầu nối mạch vành, ghép thận.. Nếu không quan tâm đến nấm thì hiệu quả điều trị không cao.

Việc chẩn đoán nấm không khó, vấn đề là có quan tâm đến hay không để có sự phối hợp giữa lâm sàng, hình ảnh học, KÝ SINH TRÙNG học, GIẢI PHẪU BỆNH trong từng trường hợp, nhất là những loại u đường hô hấp, niệu dục.

Sự phòng ngừa trong lúc chẩn đoán, tiến hành xử trí bằng phẫu thuật là điều cần quan tâm để có phương án thực hiện đúng những qui định chống nhiễm trùng như mang khẩu trang, tiệt trùng dụng cụ thăm khám, điều trị...

Yếu tố dịch tễ học: môi trường sống, cách sống, chất lượng sống đóng góp những chứng cứ lâm sàng, rất có giá trị trong chẩn đoán các loại nấm trên; chẳng hạn nuôi gia cầm, tắm ao hồ tù đọng, suy dinh dưỡng ...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        TrẦn XUÂN Mai: Vi nấm y học. Ký Sinh Trùng Y học. Giáo Trình Ðại Học Trung Tâm Ðào Tạo Và Bồi Dưỡng Cán bộ Y Tế TP.HCM, 1991, trang 340 - 422.

2.        Phan Trinh: Bệnh lý về Nấm. Vài Suy Nghĩ Mới Về Bệnh Lý Nhiệt Ðới Việt Nam. Nhà xuất bản Y Học , 1984, trang 122 - 147.

3.        Ramzi SC, Kumar V, Infectiuos Diseases, in: PATHOLOGIC BASIS OF DISEASE. 6th edition, 1999, W.B. Saunders Company, p.335-336.

4.        Kuramochi S, Kameyama K, Hiraoka N, Hosoda Y, Kumai K, Ishibiki K: Evaluation of the importance of infection as cause of death in patients with malignancy: an analysis of autopsy cases. In: Gan To Kagaku Ryoho 1992 Feb 19:161-6.