Ung thư vú luôn là bệnh của nữ giới, xuất độ mắc bệnh ở nam giới của chúng tôi chiếm tỷ lệ 1/125 trên tổng số ung thư vú nói chung - một tỷ lệ rất thấp tương đồng với các tác giả khác trong và ngoài nước: Tỷ lệ này ở Trung tâm Ung bướu TP. Hồ Chí Minh là 1/100 (Lê Văn Xuân), ơÛ Thái Lan là 1/181(10), phù hợp với nhận định của y văn về tỷ lệ ung thư vú ở nam giới rất hiếm gặp tỷ lệ mắc là 1/100.000 trường hợp bệnh nhân nam giới(11,12,13,14). Người ta còn nhận thấy rằng nguy cơ ung thư vú ở nam giới tăng cao khi có gia đình bị ung thư vú, có tổn thương ở tinh hoàn, nhiễm virus quai bị ở tinh hoàn(17).
Nhóm tuổi mắc bệnh cao là 40 - 59 tuổi chiếm tỷ lệ ưu thế hơn so với các nhóm tuổi khác: 60% tổng số bệnh nhân ung thư vú. Tỷ lệ này tương đồng với các tác giả khác ở phía Nam và phía Bắc Việt Nam: TP. HCM: 54%(6), Hà Nội: 53%(8).
Qua sự ghi nhận này còn cho thấy tỷ lệ ung thư vú ở Ðà Nẵng - Quảng Nam bắt đầu tăng vọt từ lứa tuổi trên 30 và đỉnh cao là 40 - 49 và 50 - 59 sau đó giảm dần ở lứa tuổi 60 - 69 và giảm hẵn ở người già trên 70 tuổi. Ðiều ghi nhận này tương tự như ghi nhận ở TP. HCM và Hà Nội(6,8).
Tổn thương ung thư vẫn thường gặp ở vú (T) nhiều hơn vú (P): 54,8% so với 45,2% và cũng thường khu trú ở ¼ trên ngoài hơn là ở các vị trí khác: 43,7% tổng số ung thư ghi nhận.
Ðặc điểm bệnh học này cũng giống như ghi nhận ở Thành phố Hồ Chí Minh và Nội: Tỷ lệ này ở Thành phố Hồ Chí Minh theo thứ tự là 57,3% và 56,4%(6) ở Hà Nội tỷ lệ ung thư vú (T) là 59,5%(8), và theo một tài liệu của Mỹ tỷ lệ ung thư ¼ trên ngoài là 49%(18).
Ða số bệnh nhân ở khu vực Ðà Nẵng - Quảng Nam được xác định bệnh đều ở giai đoạn khá trễ, u đã có kích thước từ 2 - 5cm (T2 - T3), tỷ lệ bị đến 73% tổng số bệnh nhân, quá cao so với giai đoạn sớm khi khối u còn nhỏ dưới 2cm (T1) tỷ lệ chỉ 6%. Ðây thật sự là một vấn nạn không chỉ riêng cho từng khu vực địa phương nào cả mà còn trên phạm vi cả nước. Bất kể thống kê nào về ung thư đều cho thấy bệnh nhân đến trễ là chuyện thường gặp. Ðây cũng là điều mà chúng ta còn phải suy nghĩ trong việc giáo dục sức khỏe cho nhân dân để phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ nhất là bệnh nhân từ lứa tuổi 40 trở lên kể cả nam giới.
Các công trình nghiên cứu, các y văn trong và ngoài nước đều cho thấy rằng ung thư biểu mô tuyến vú thể ống loại NOS luôn có một tỷ lệ vượt trội so với các loại mô học khác của ung thư vú: 90,8%(6), 76,18%(4,8), trên 70%(11,12).
Kết quả từ ghi nhận của chúng tôi cũng không nằm ngoài nhận định đó tỷ lệ này là 85,3% trên tổng số ung thư vú.
Ung thư vú thuộc loại NOS có một tiên lượng xấu hơn các loại mô học còn lại, tỷ lệ sống thêm 5 năm cho tất cả các giai đoạn là 60% so với 80 - 95% đối với các nhóm mô học khác.
Xuất độ được chúng tôi ghi nhận ở báo cáo này là 2,8%, trong khi đó ở TP. Hồ Chí Minh là 3,5%(6) và ở Hà Nội là 0,61%(4). Theo một số y văn thì tỷ lệ loại này chiếm từ 4 - 7% tất cả các loại ung thư vú, typ mô học điển hình (thực sự) và có thay đổi đều có một tỷ lệ tương đương. Tiên lượng bệnh tốt hơn NOS ngay cả khi có di căn hạch. Thời gian sống thêm 10 năm là 80 - 90%(13) hoặc 92%(12) đối với các type điển hình, còn các type thay đổi bất thường có tiên lượng dao động giữa tiên lượng thể tủy điển hình (thực sự) và NOS(12), thời gian sống thêm sẽ cải thiện hơn nếu phát hiện được u kích thước dưới 3cm(12).
Ung thư vú loại này, tỷ lệ bắt gặp của chúng tôi là 3,6% trên tổng số bệnh nhân ung thư vú, ở TP. HCM tỷ lệ gặp là 3,2%(6), ở Hà Nội dao động từ 3,2%(4) đến 4%(8). Trong khi đó theo các y văn thì ung thư vú thể nhầy có tỷ lệ từ 2 - 3% type không điển hình nhiều hơn gấp 3 lần so với type điển hình(13). Trong một thống kê khác cho thấy ung thư vú thể nhầy ít gặp hơn thể tủy: 17/940 trường hợp so với 41/940 trường hợp(19).
Ung thư vú thể nhầy có tiên lượng tốt hơn so với thể NOS nhất là khi khối u nhỏ hơn 3cm. Thời gian sống thêm 5 năm từ 84% đến 87% thậm chí đến 100% tùy theo các tác giả cho loại thể nhầy điển hình và 60% cho loại không điển hình(11).
Nếu như đánh giá thời gian sống thêm từ 10 năm đến 15 năm thì tỷ lệ vẫn là 85 - 90% cho loại điển hình và 63% - 80% cho loại không điển hình(11,13).
Tỷ lệ tái phát tại chỗ sau mổ cắt vú và tương đối hiếm, 50% tái phát sau 10 năm, có trường hợp sau 25 - 30 năm(11,12)
Ðây là một trong những loại ung thư hiếm gặp, tỷ lệ gặp được ghi nhận ở khu vực chúng tôi là 0,8% trên tổng số ung thư vú, ở TP. HCM là 0,5% tổng số loại ung thư biểu mô tuyến vú(6). Trong khi đó tại Hà Nội cùng tại một đơn vị nghiên cứu vào hai thời điểm khác nhau có tác giả không ghi nhận được loại mô học này(4), nhưng có tác giả lại ghi nhận một tỷ lệ là 11%(8).
Theo y văn các nước tỷ lệ ung thư biểu mô thể nhú gặp từ 1 - 2% tổng số loại ung thư(11,12,13).
Tiên lượng bệnh được cho là rất tốt ngay cả khi có di căn hạch, tỷ lệ này sống 5 năm là 89% và 10 năm là 75%(11).
Tỷ lệ loại mô học này được ghi nhận ở khu vực Ðà Nẵng - Quảng Nam là 4,8% tổng số loại ung thư vú. Tỷ lệ ung thư biểu mô thể thùy luôn có một sự dao động khá lớn giữa các tác giả trong nước: Ở TP. HCM là 0,5% tổng số ung thư biểu mô vú (Nguyễn Sào Trung) và 4% tổng số ung thư biểu mô (Lê Văn Xuân), ở Hà Nội tỷ lệ này là 0,1% (Nguyễn Ðăng Ðức) và 2% (Lê Quang Hải). Trong khi đó theo y văn, tỷ lệ loại bệnh này cũng thay đổi theo từng tác giả khác nhau 3 - 5%(11), 5 - 10%(17) có khi đến 15%(13).
Ðiều này phù hợp với một nhận định là "Cũng cần chú ý rằng trong nhiều trường hợp việc phân biệt rất khó và với sự chủ quan rất lớn tạo nên một thực tế là tỷ lệ ung thư biểu mô thể thùy xâm nhập được xếp từ 0,7 đến 20% trong các lô được công bố"(9).
Trong 2 phân nhóm ung thư thể thủy điển hình và thể thùy có thay đổi, việc đánh giá tiên lượng chỉ được áp dụng cho loại điển hình là quan trọng hơn loại có thay đổi(12).
Tiên lượng sống thêm 7 - 10 năm là 80 - 90% cho tất cả các giai đoạn(13). Còn loại thể thùy có thay đổi thì tiên lượng giống như thể ống NOS.
Một vấn đề màcó một tác giả đã nhấn mạnh đối với ung thư thể thùy có một tỷ lệ ý nghĩa 10 - 15% trường hợp có thêm một ung thư vú hoặc có tỷ lệ 20 - 30% một sự phát triển tiếp theo của ung thư ở vú còn lại.
Khả năng di căn thường đến màng não, các thanh mạc, sau phúc mạc, buồng trứng. Trong khi đó ung thư thể ống thường di căn đến xương, vào trong nhu mô phổi, gan và não(11,17).
Một loại bệnh lý khá hiếm gặp, ở đây chúng tôi ghi nhận được một tỷ lệ mắc bệnh là 0,8% tổng số các loại ung thư vú. Theo y văn, tỷ lệ mắc bệnh từ 1 - 2% tổng số ung thư(11,12,13) nhưng cũng có tác giả cho thấy tỷ lệ này là 5% tổng số ung thư vuù(16).
Một điều đáng lưu ý là 10 - 28% trường hợp không có biểu hiện lâm sàng và chỉ được phát hiện bằng chẩn đoán mô học. Bệnh Paget là do sự lan tràn của ung thư vú thể ống tại chỗ dạng bả khô (Comedo - DCIS) hoặc ung thư vú thể ống xâm lấn có độ mô học cao lên quầng vú. Không biết có phải vì thế mà một số tác giả không tách ra thành một nhóm bệnh riêng biệt và cụ thể trong bệnh lý về vú mà lại được đề cập khá chi tiết trong bệnh lý ở da(13).
Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào sự lan tràn của tình trạng ung thư có liên quan trong vú(11,12). Tiên lượng tốt chỉ khi nào tổn thương còn khu trú ở núm vú.
Tỷ lệ gặp của chúng tôi ở khu vực Ðà Nẵng - Quảng Nam là 1,2% tổng số ung thư. Ở TP. HCM tỷ lệ bệnh gặp loại ung thư này dao động từ 2/826 tổng số u tuyến vú(5) đến 1,8% tổng số loại ung thư vú(7). Một số y văn có đề cập đến bệnh lý này nhưng không đưa ra một số liệu cụ thể, cũng như tiên lượng về thời gian sống thêm của bệnh nhân(11,13,14), nhưng cũng theo một y văn khác thì tỷ lệ gặp phải u diệp thể ác tính là 0,18% tổng số ung thư và tỷ lệ sống thêm 5 năm là 80%(12).
Chúng tôi chỉ ghi nhận được một trường hợp u limpho ác tính, 1 trường hợp u mô bào ác tính, một tỷ lệ bắt gặp rất thấp là 0,4% tổng số các bệnh ung thư vú. Ðiều này cũng giống như các nghiên cứu của các tác giả khác, tỷ lệ sarcoma vú luôn thấp hơn dưới 1%(11,12,13,14).
Trong các loại sarcoma ở vú u mô bào ác tính là một trong những loại hay gặp nhất, tỷ lệ đến 14,3%, với chỉ 1 trường hợp mà chúng tôi bắt gặp ở khu vực Ðà Nẵng - Quảng Nam cũng là loại u mô bào ác tính.
Ðối với trường hợp u limpho ác tính ở vú, tỷ lệ gặp của chúng tôi là 0,4%, ở TP. HCM tỷ lệ này là 0,9%(7). Trong khi đó các y văn ghi nhận một tỷ lệ dưới 0,1% - 0,12%(11,12,13).
Tiên lượng của sarcoma vú phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, giai đoạn càng muộn thì tiên lượng càng xấu, tiên lượng của limphoma ở vú thể chưa thống nhất, có tác giả cho là tốt khi tổn thương còn khu trú ở vú(12).