VAI
TRÒ THỬ NGHIỆM POLYMERASE CHAIN REACTION (PCR)
TRONG CHẨN ÐOÁN LAO MÀNG PHỔI
TÓM TẮT
Chúng tôi đánh giá độ nhạy và độ chuyên của thử nghiệm PCR trong chuẩn đoán lao màng phổi trên 37 BN bị nghi ngờ tràn dịch màng phổi do lao. Kết quả cho thấy độ nhạy của thử nghiệm là 35,5% đối với dịch màng phổi và 25,8% đối với mô màng phổi. Ðộ chuyên là 100%. Rõ ràng là PCR có độ nhạy cao hơn soi (0%), cấy dịch màng phổi (6,5%) và sinh thiết màng phổi (25,8%). Như vậy, PCR sẽ giúp chuẩn đoán nhanh, chính xác trong 24 giờ, giúp quyết định điều trị kịp thời đối với lao màng phổi.
SUMMARY
The
contribution of polymerase chain reaction (PCR)
to the diagnosis of tuberculous pleurisy
We evaluated the sensitivity and the specificity of PCR for the detection of tuberculous pleurisy among 37 patients who were suspected to have tuberculous pleural effusion. The sensitivity of the PCR was 35.5% in pleural fluid and 25.8% in pleural biopsy sample. The specificity was 100%. It is clear that PCR is more sensitive than microscopy (0%), culture (6.5%) of pleuural fluid and pleural bioppsy (25.8%). Therefore, PCR will help to diagnose rapidly and accurately within 24h and facilitate theurapeutic decisions for suspected tuberculou pleurisy.
ÐẶT VẤN ÐỀ
Kỹ thuật khuếch đại gen hay PCR (Polymerase chain reaction) được phát hiện bởi K.B. Mullis 1985, thực sự là một cuộc đại cách mạng trong sinh học phân tử với các ứng dụng kỳ diệu trong nhiều lĩnh vực đặc biệt trong lĩnh vực Y học. Trong chẩn đoán lao màng phổi, kết quả của các nghiên cứu ở Nhật,Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Anh... bước đầu cho thấy thử nghiệm PCR lao kết hợp được độ nhanh của soi và độ nhạy của cấy, giúp ích rất nhiều cho bác sĩ trong quyết định điều trị thuốc kháng lao.
Tại Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá về vai trò của thử nghiệm PCR trong chẩn đoán lao phổi và lao ngoài phổi, đặc biệt là lao màng phổi một thể lao ngoài phổi thường gặp nhất. Vì vậy chúng tôi thực hiện công trình nghiên cứu này để đánh giá vai trò của thử nghiện PCR trong chẩn đoán lao màng phổi nhằm đạt được các mục tiêu:
1. Xác định giá trị chẩn đoán: Ðộ nhạy cảm, độ đặc hiệu, giá trị tiên lượng dương, giá trị tiên lượng âm của thử nghiệm PCR trong chẩn đoán lao màng phổi.
2. So sánh vai trò của thử nghiệm PCR với cấy dịch-mô màng phổi, nhuộm soi dịch màng phổi, kết quả mô học của mô màng phổi trong chẩn đoán lao màng phổi.
ÐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ðối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân nhập BV Chợ Rẫy khoa Phổi Thận và được chẩn đoán là tràn dịch màng phổi nghi do lao từ 1.3.1997 đến 1.2.1998.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiền cứu mô tả.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Những bệnh nhân được chọn vào lô nghiên cứu là những bệnh nhân nằm điều trị tại khoa Phổi - Thận BV Chợ Rẫy được chẩn đoán là tràn dịch màng phổi, dịch tiết lympho chiếm ưu thế.
Kế hoạch thực hiện
Tất cả bệnh nhân thuộc đối tượng nghiên cứu được hỏi bệnh sử, tiền sử,khám lâm sàng và làm các xét nghiệm cận lâm sàng theo mẫu thống nhất. Các bệnh nhân này đều được làm: chọc dịch màng phổi, sinh thiết màng phổi, thử nghiệm PCR, các xét nghiệm khác: công thức máu, tốc độ lắng máu, protein máu, LDH máu, BUN, Creatinine, SGOT, SGPT, Bilirubine, IDR, X - Quang phổi thẳng.
Chẩn đoán cuối cùng: + Chẩn đoán chắc chắn: lao màng phổi khi có kết quả cấy dịch hoặc mô màng phổi dương tính hoặc kết quả mô học phù hợp thương tổn lao.
+ Chẩn đoán có leõ: lao màng phổi khi có triệu chứng lâm sàng phù hợp với lao, đáp ứng với thuốc kháng lao, nhưng cấy và mô học đều cho kết quả âm tính.
Chẩn đoán cuối cùng là lao màng phổi khi BN thuộc nhóm chắc chắn lao hoặc có lẽ lao.
Ðiều trị: Tất cả BN được chẩn đoán lao màng phổi sẽ được điều trị ngay với cùng phác đồ thuốc kháng lao 2 RHZ / 4RH.
Theo dõi: Tất cả BN lao màng phổi sẽ được điều trị thuốc kháng lao và theo dõi định kỳ sau một tháng, hai tháng để đánh giá đáp ứng điều trị. BN được xem là đáp ứng điều trị lao khi: hết sốt, ho, đau ngực, lên cân, VS về bình thường, X-quang không còn tràn dịch màng phổi.
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ 1/3/1997 đến 1/2/1998, chúng tôi đã chọn và nghiên cứu được 37 bệnh nhân. 06 trường hợp được chẩn đoán không phải lao (b) có kết quả mô học là ung thư di căn màng phổi, 06 trường hợp này không được điều trị lao. 31 trường hợp được chẩn đoán cuối cùng là lao (a) khi bệnh nhân thuộc nhóm chắc chắn lao hay nhóm có lẽ là lao.
Bảng 1: Chẩn đoán cuối cùng dựa vào cấy, nhuộm soi, mô học, TCLS, CLS và đáp ứng điều trị kháng lao
|
Số BN |
Cấy dịch màng phổi |
Nhuộm soi |
Kết quả mô học |
TCLS, CLS & đáp ứng điều trị |
Chẩn đoán cuối cùng |
|
|
2a |
+ |
- |
+ |
+ |
Chắc chắn lao |
|
|
31 |
6a |
- |
- |
+ |
+ |
Chắc chắn lao |
|
23a |
- |
- |
- |
+ |
Có lẽ là lao |
|
|
6 |
6b |
- |
- |
- |
Không điều trị |
Không phải lao |
Bảng 2: Kết quả PCR dịch, PCR mô, cấy, mô học so với chẩn đoán cuối cùng
|
Kết quả Xét nghiệm |
Chẩn đoán cuối cùng |
Ðộ nhạy % |
Ðộ chuyên % |
Giá trị tiên lượng dương |
Giá trị tiên lượng âm |
|||||||
|
Lao |
Không lao |
|||||||||||
|
PCR dịch (+) (-) |
11 20 |
0 6 |
35,5 |
100 |
100% |
23,1% |
||||||
|
PCR mô MP (+) (-) |
8 23 |
0 6 |
25, |
100 |
100% |
20,7% |
||||||
|
Cấy dịch (+) (-) |
2 29 |
0 6 |
6,5 |
100 |
100% |
17,1% |
||||||
|
Mô học (+) (-) |
8 23 |
0 6 |
25,8 |
100 |
100% |
20,7% |
||||||
|
PCR dịch hay mô (+) (-) |
14 17 |
0 6 |
45,2 |
100 |
100% |
35,3% |
||||||
Bảng 3: Phối hợp tất cả các test trong chẩn đoán lao màng phổi
|
Kết quả Xét nghiệm |
Lao |
Không lao |
Ðộ nhạy % |
Ðộ chuyên |
||
|
PCR cấy soi |
DMP |
Dương tính |
11 |
0 |
35.5% |
100% |
|
Âm tính |
20 |
6 |
||||
|
PCR cấy mô học |
Mô MP |
Dương tính |
13 |
0 |
41.9% |
100% |
|
Âm tính |
18 |
6 |
||||
|
Tất cả các xét nghiệm |
Dương tính |
18 |
0 |
58.1% |
100% |
|
|
Âm tính |
13 |
6 |
||||