BÀN LUẬN
Trong khi những tiến bộ y khoa đã ngày càng nâng cao và được ứng dụng trên toàn thế giới, việc áp dụng những biện pháp nhằm cải thiện NKBV song song với những tiến bộ này vẫn còn là một vấn đề khó khăn trên một số nưóc trên thế giới. Kỹ thuật phẫu thuật ngày càng phức tạp, nhưng việc nâng cao kiểm soát NKBV song song với những tiến bộ kỹ thuật này thưòng không được chú ý. Mặc dầu việc so sánh những tỉ lệ NKBV ở những bệnh viện khác nhau thường không chính xác do phương pháp xác định trường hợp có nhiễm khuẩn khác nhau, tỉ lệ NKVM nhìn chung qua điều tra này là cao hơn nhiều so với các điều tra ở Mỹ và châu Âu(20-22). Tuy nhiên tỉ lệ NKVM này cũng tương đương với một số kết quả nghiên cứu ở các nước Ðông Nam Á. Patir và cộng sự ghi nhận nhiễm khuẩn sau phẫu thuật thần kinh là 15% ở New Delhi, Ấn độ; Một nghiên cứu ở bệnh viện Phụ sản Thành phố Hồ Chí Minh cũng ghi nhận tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là 14.2%(5,12).
Hai khoa ngọai có tỉ lệ NKVM cao nhất là chỉnh hình và bỏng. Những khoa này có số bệnh nhân phẫu thuật vì chấn thương cao (chấn thương chỉnh hình 84%; bỏng 83%). Thật ra, đa số bệnh nhân bị chấn thương đều được phân lọai là phẫu thuật dơ. Cả hai vấn đề chấn thương và phẫu thuật dơ đều là những yếu tố nguy cơ NKVM khi phân tích đa biến. Do đó việc dự phòng NKVM ở những nhóm bệnh nhân chấn thương cần phải được đặc biệt quan tâm, kể cả việc cấy vết thương và chọn kháng sinh dự phòng và điều trị phù hợp.
Ða số các chấn thương đều do tai nạn giao thông. Ðiều này giải thích tuổi trung bình của những người có NKVM thấp hơn một cách đáng kể so với người không NKVM (31 vs 39 năm, p=0,05), phản ánh tai nạn giao thông xảy ra nhiều ở người trẻ. Kết quả nghiên cứu này cho thấy cần có những nghiên cứu thêm trong tương lai về tác động của tai nạn giao thông ở Việt Nam.
Một đặc điểm đặc biệt khác là bệnh nguyên chính của NKVM là VK gram âm Chỉ có hai trong 30 bệnh nguyên là gram dương. Ðiều này trái ngược với những điều tra tại các nước, NKVM thường do gram dương(24). Kết quả này cũng khác với nghiên cứu của bệnh viện Phụ Sản, nguyên nhân thường gặp là S. aureus(12). Vấn đề này đưa ra một câu hỏi về vấn đề đường lây nhiễm ở bệnh viện. Những nghiên cứu bổ sung về đánh giá nguồn VK gram âm, sử dụng kháng sinh, nguồn nước, nhiễm chéo... cần được đặt ra.
Một trong những điễm nổi bật trong nghiên cứu của chúng tôi là vấn đề sử dụng kháng sinh. Vấn đề này trước đây chưa được nêu bật ở các nghiên cứu ở Việt nam. Những khuyếân cáo về điều trị kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật là phải dùng kháng sinh ngay trước phẫu thuật và ngưng dùng ngay sau khi phẫu thuật(13). Trên thực tế trên 50% bệnh nhân phẫu thuật của chúng tôi đã được dùng kháng sinh 8 giờ trước phẫu thuật và hầu hết tiếp tục điều trị kháng sinh sau phẫu thuật (390/391; 99.7%). Ða số bệnh nhân được dùng kháng sinh đến khi xuất viện để ngăn chận viêc nhiễm khuẩân trong thời gian nằm viện. Kháng sinh thuòng dùng nhất là cephalosporin thế hệ 3 kết hợp với aminoglycoside. Tuy nhiên, kết quả kháng sinh đồ cho thấy đa số các bệnh nguyên lại kháng với nhóm kháng sinh này. Nguyên nhân có thể là do việc sử dụng đại trà các loại kháng sinh này tại bệnh viện. Có nhiều yếu tố tác động lên việc ghi toa. Nhiều phẫu thuật viên cho rằng khuyến cáo của CDC về sử dụng kháng sinh không phù hợp với tình hình thực tế tại Việt nam, do môi trường bệnh viện và những nguồn lực hạn chế trong chăm sóc bệnh nhân. Ngoài ra một số ý kiến còn chưa tin tưởng vào kết quả kháng sinh đồ.
Tác động của NKVM lên bệnh nhân là đáng kể, thời gian nằm viện của những bệnh nhân NKVM dài hơn những bệnh nhân không NKVM đến 16 ngày; điều này dẫn đến tăng chi phí điều trị, tăng thời gian chịu đựng bệnh tật. Khoảng chi phí tăng thêm do phải nằm viện kéo dài trong trường hợp này chưa được thống kê tại nước ta, một thống kê tại Hoa Kỳ cho thấy con số này được ước tính lên đến 4,5 tỉ dollars môt năm.
Việc cấy vết thương không được tiến hành cho tất cả bệnh nhân có NKVM, việc ghi hồ sơ không đầy đủ... tất cả những yếu tố này khiến cho việc đánh giá NKVM có thể bị ước tính thấp hơn con số hiện có. Ngoài ra, vì đây chỉ là một nghiên cứu cắt ngang 1 ngày nên việc phân tích các yếu tố liên quan đến NKVM cao thì không thể đánh giá được, những yếu tố nguy cơ tìm được trong điều tra này chỉ là những yếu tố gợi ý để định ra những hưóng cho những nghiên cứu và chương trình can thiệp tiếp theo trong tương lai.
Bộ Y tế hiện tại đang rất coi trọng đến vấn đề nhiễm khuẩn mắc phải trong bệnh viện. Những chương trình kiểm soát NKBV cũng như việc nâng cấp cơ sở hạ tầng để nâng cao vấn đề kiểm soát NKBV ngày càng được chú ý. Nghiên cứu này đã cho thấy việc xây dựng những chương trình kiểm soát NKBV, giám sát chủ động nhiễm khuẩn bệnh viện, những chương trình can thiệp nhằm làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn cũng như chương trình nhằm chấn chỉnh lại việc sử dụng kháng sinh, cấp thiết cần phải được đặt ra vì mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Bảng 1. Phân bố NKVM theo từng khoa
|
Khoa |
Số bn N (% trong tổng số) |
Số bn có NKVM N (% trong tổng số) |
Tỉ lệ NKVM theo khoa |
|
Ngọai thần kinh |
97 (24,8) |
15 (26,8) |
15,5% |
|
Ngoại tổng quát |
74 (18,9) |
4 (7,2) |
5,4% |
|
Chỉnh hình |
57 (14,6) |
14 (25,0) |
24,6% |
|
Tiết niệu |
31 (7,9) |
2 (3,6) |
6,5% |
|
Ngoại lồng ngực |
34 (6,1) |
5 (5,4) |
14,7% |
|
Tai mũi họng |
24 (6,1) |
3 (5,4) |
12,5% |
|
Bỏng |
23 (5,9) |
8 (14,3) |
34,8% |
|
ICU |
21 (5,4) |
4 (7,1) |
19,0% |
|
Mắt |
20 (5,1) |
1 (1,8) |
5,0% |
Bảng 2. Tần suất các phẫu thuật đã tiến hành
|
Thủ thuật |
N (%) |
|
Mở sọ lấy máu tụ |
68 (17,4) |
|
Cắt lọc vết thương |
31 (7,9) |
|
Phẫu thuật tiêu hóa như khâu lổ thủng, nối ruột, bypass |
26 (6,6) |
|
Kết hợp xương |
17 (4,3) |
|
Cắt túi mật, lấy sỏi mật |
15 (3,8) |
|
Cố định ngoài |
12 (3,1) |
|
Lấy sỏi thận |
12 (3,1) |
|
Mở khí quản |
12 (3,1) |
|
Cắt ruột thừa |
11 (2,8) |
|
Mổ đục thủy tinh thể |
11 (2,8) |
|
Ghép da |
11 (2,8) |
Bảng 3. Những yếu tố liên quan đến NKVM trên phân tích đơn biến
|
NKVM N (%) |
Không NKVM N (%) |
RR (95% KTC) |
Giá trị p |
|
|
Phẫu thuật dơ |
23 (41) |
38 (11) |
3,77 (2,39, 5,96) |
<0,001 |
|
Phẫu thuật cấp cứu |
36 (64) |
119 (36) |
2,74 (1,65, 4,55) |
<0,001 |
|
Chấn thương |
35 (63) |
116 (35) |
2,65 (1,60, 4,37) |
<0,001 |
|
Tuổi <40 |
41 (73) |
176 (53) |
2,19 (1,26, 3,83) |
0,003 |
|
Giới (nam) |
46 (82) |
228 (68) |
1,96 (1,03, 3,76) |
0,05 |
|
Chuyên khoa - Bỏng
- Chỉnh hình |
8 (14)
14 (25) |
15 (4)
43 (13) |
2,67 1,95 |
0,01
0,03 |
TÀI LIỆU THAM KHẢO