RỐI LOẠN CHỨC NĂNG LỚP NỘI MẠC: MỘT MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC MỚI TRONG ÐIỀU TRỊ CÁC BỆNH TIM MẠCH
ENDOTHELIAL DYSFUNCTION: A NEW STRATEGIC TARGET THERAPY FOR CARDIOVASCULAR DISEASE
ÐẶT VẤN ÐỀ
Mặc dầu qua việc nhận biết được các yếu tố nguy cơ tim mạch, và việc can thiệp tích cực vào các yếu tố nguy cơ thay đổi được như điều chỉnh tốt lối sống chế độ ăn uống, phát hiện sớm và điều trị hiệu quả tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu; cùng với việc phát minh ra nhiều nhóm thuốc điều trị mới, y học thế giới đã đạt được những tiến bộ rất đáng kể trong việc giảm tỷ lệ tử vong và tàn tật do bệnh tim mạch.
Tuy nhiên bệnh tim mạch vẫn còn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phát triển và được dự báo là sẽ tăng cao nhanh chóng ở các nước đang phát triển.
Một số đặc điểm chung nhất cho các bệnh lý tim mạch là những thay đổi tại mạch máu và chính những thay đổi này lại đóng một vai trò rất quan trọng trong cả quá trình bệnh sinh. Những hiểu biết mới trong hai thập niên qua về vai trò sinh lý và sinh lý bệnh của thành mạch máu, đặc biệt là lớp nội mạc (endothelium) đã đem lại những cơ sở khoa học quan trọng cho việc xác định một chiến lược điều trị mới là điều chỉnh các rối loạn chức năng của lớp nội mạc.
Chiếm lĩnh ở một vị trí quan trọng là nằm giữa dòng máu tuần hoàn và các mô của cơ thể, lớp nội mạc mạch máu có khả năng đáp ứng với mọi thay đổi về vật lý, hóa học và nội tiết bằng cách tạo ra các hoạt chất sinh học để điều hòa trương lực của cơ trơn mạch máu, duy trì sự trơn láng bề mặt của lòng mạch, điều hòa quá trình cầm máu, điều hòa sự tăng sinh tế bào và các cơ chế viêm, miễn dịch của thành mạch máu. Mọi tổn thương hoặc tăng hoặc giảm quá mức hoạt tính lớp nội mạc đều phá vỡ trạng thái điều hòa cân bằng bình thường của lớp nội mạc và tạo ra trạng thái được định nghĩa là rối loạn chức năng lớp nội mạc (endothelial dysfunction). Trên lâm sàng hộâi chứng rối loạn chức năng lớp nội mạc biểu hiện bằng các hiện tượng co mạch quá mức khu trú hay lan tỏa; sự hình thành huyết khối; thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, và chính những thay đổi sinh lý bệnh này dẫn tới tăng huyết áp, thiểu năng động mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và suy thận tiến triển.
Trong bài tổng quan này chúng tôi muốn đề cập tới chức năng bình thường của lớp nội mạc; định nghĩa và các biểu hiện của hội chứng rối loạn chức năng lớp nội mạc; mối liên quan sinh lý bệnh học của rối loạn chức năng lớp nội mạc với các bệnh lý tim mạch lâm sàng và cuối cùng nêu lên những hướng tác động điều trị của mục tiêu chiến lược mới này trong tương lai.
CHỨC NĂNG BÌNH THƯỜNG CỦA LỚP NỘI MẠC
Lớp nội mạc là một "cơ quan" sống lớn trong cơ thể
Lớp nội mạc không phải chỉ là một lớp tế bào lót bên trong lòng mạch máu, mà nó là một "cơ quan sống" có lẽ lớn nhất trong cơ thể. Với một người nặng 70kg, lớp nội mạc có tổng diện tích bằng 6 sân Tenis và một khối lượng xấp xỉ 5 lần trái tim; trọng lượng tổng cộng khoảng 1800gr, nghĩa là nặng hơn cả lá gan.
Bảng 1: Các chất trung gian có nguồn gốc từ nội mạc
|
Phân tử nhỏ: . Histamine . Gốc tự do . Yếu tố giãn mạch có nguồn gốc nội mạch (edrf - no) |
Protein: |
|
. Endothelin (ET-1) |
|
|
. Yếu tố tăng trưởng |
|
|
. Phân tử kết dính (elam, icam, vcam) |
|
|
. Protein chất đệm |
|
|
. Yếu tố đông máu (tf, +pa, pai, tm, vwf) |
|
|
Lipid: . Prostaglandins (pgi2) . Leukotrienes . Paf: yếu tố hoạt hóa tiểu cầu |
. Kháng thể (mhc - 1) |
|
. Men (ace) |
|
|
. Các thụ thể |
|
Với vị trí chiến lược là nằm giữa dòng máu tuần hoàn và mô của cơ thể, lớp nội mạc có chức năng điều hòa liên quan tới quá trình sinh lý và bệnh lý như (a) trương lực mạch máu, (b) cấu trúc mạch máu, (c) tân tạo mạch máu, (d) cầm máu và hình thành huyết khối, (e) vận chuyển lipide, (f) thay đổi tính thấm thành mạch, (g) các hoạt động chuyển hóa, (h) các đáp ứng miễn dịch, phản ứng viêm và (i) quá trình phát triển cũng như di căn các khối u.

Hình 1: Một số chức năng sinh lý và sinh lý bệnh quan trọng của lớp nội mạc mạch máu